Xóa
án
tích
là
một
chế
định
quan
trọng
của
Bộ
luật
hình
sự
(BLHS)
Việt
Nam
nói
chung
và
BLHS
hiện
hành
(Luật
số
100/2015/QH13,
đã
được
sửa
đổi,
bổ
sung
theo
Luật
số
12/2017/QH14;
Luật
số
59/2021/QH15
và
Luật
số
86/2025/QH15):
Tại
Chương
XI
từ
Điều
69
đến
Điều
73
quy
định
về
Xoá
án
tích.
Án
tích
là
hậu
quả
pháp
lý
của
việc
một
người
đã
bị
kết
án.
Người
bị
kết
án
nếu
chưa
được
xóa
án
tích
thì
được
coi
là
có
án
tích;
Người
bị
kết
án
được
xóa
án
tích
theo
quy
định
từ
Điều
70
đến
Điều
73
của
BLHS.
Quy
định
về
xóa
án
tích
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
quyền
con
người,
quyền
công
dân
của
người
bị
kết
án
vì:
Trong
một
số
trường
hợp
nếu
người
bị
kết
án
thuộc
trường
hợp
chưa
được
xoá
án
tích
(đang
có
án
tích)
thì
đó
là
một
trong
những
căn
cứ
để
định
tội
danh,
định
khung
hình
phạt;
quyết
định
hình
phạt;
tình
tiết
tăng
nặng
trách
nhiệm
hình
sự
(TNHS)…
Trong
thực
tiễn
áp
dụng
quy
định
về
Xoá
án
tích
theo
BLHS
hiện
hành
thời
gian
qua,
mặc
dù
nội
dung
này
đã
được
các
cơ
quan
có
thẩm
quyền
ban
hành
văn
bản
quy
phạm
pháp
luật
và
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành.
Tuy
nhiên,
trong
thực
tiễn
việc
áp
dụng
quy
định
trên
đối
với
trường
hợp
Không
bị
coi
là
án
tích
đối
với
người
bị
kết
án
do
lỗi
vô
ý
về
tội
phạm
ít
nghiêm
trọng,
tội
phạm
nghiêm
trọng
quy
định
tại
khoản
2
Điều
69
BLHS
và
quy
định
về
Tái
phạm
tại
khoản
1
Điều
53
BLHS,
còn
nhiều
cách
hiểu
và
quan
điểm
khác
nhau,
tác
giả
đưa
ra
vụ
án
cụ
thể
như
sau:
Bản
án
số
23/2024/HSST
ngày
15/10/2024
(Bản
án
số
23),
của
Tòa
án
nhân
dân
huyện
YS,
tỉnh
TQ
xử
phạt
bị
cáo
Trần
Văn
T:
01
năm
tù,
nhưng
cho
hưởng
án
treo,
thời
gian
thử
thách
02
năm
về
tội
"Vi
phạm
quy
định
về
tham
gia
giao
thông
đường
bộ"
theo
quy
định
tại
Khoản
1
Điều
260
BLHS
(thời
gian
thử
thách
tính
từ
ngày
tuyên
án
15/10/2024).
Đến
ngày
30/4/2025
(đang
trong
thời
gian
thử
thách)
Trần
Văn
T
lại
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy.
Khi
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy,
còn
có
nhiều
ý
kiến,
cách
hiểu
và
quan
điểm
khác
nhau
về
việc
áp
dụng
quy
định
tại
Khoản
2
Điều
69
BLHS
để
xác
định
Tiền
án
cũng
như
áp
dụng
tình
tiết
tăng
nặng
TNHS
“Tái
phạm”
quy
định
tại
Khoản
1
Điều
53
BLHS.
*
Qua
nghiên
cứu
nội
dung
vụ
án
trên,
cũng
như
quy
định
của
Pháp
luật
tác
giả
thấy
rằng:
Khi
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy,
Trần
Văn
T
thuộc
trường
hợp
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
chấp
hành
án
(chưa
được
xóa
án
tích).
Tuy
nhiên,
khi
xem
xét,
đối
chiếu
hành
vi
của
Trần
Văn
T
trong
tội
“Vi
phạm
quy
định
về
tham
gia
giao
thông
đường
bộ"
với
quy
định
tại
Khoản
2
Điều
69
BLHS
“2.
Người
bị
kết
án
do
lỗi
vô
ý
về
tội
phạm
nghiêm
trọng…không
bị
coi
là
có
án
tích”.
Vậy,
T
có
thể
xem
là
trường
hợp“không
bị
coi
là
có
án
tích”,
có
thuộc
diện
được
“coi
như
chưa
bị
kết
án”
hay
không?
Vấn
đề
này
rất
quan
trọng,
liên
quan
trực
tiếp
đến
việc
có
áp
dụng
hay
không
tình
tiết
tăng
nặng
TNHS
“Tái
Phạm”
đối
với
T
hay
chỉ
xác
định
đó
là
nhân
thân
trong
lần
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
tuý.
Vụ
án
trên
hiện
nay
đang
có
hai
quan
điểm
khác
nhau.
1.
Quan
điểm
1
cho
rằng:
Khi
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy,
Trần
Văn
T
thuộc
trường
hợp
không
có
tiền
án,
không
có
án
tích.
Bản
án
số
23
không
xác
định
là
Tiền
án
để
làm
căn
cứ
áp
dụng
tình
tiết
tăng
nặng
TNHS
“Tái
phạm”
mà
chỉ
xác
định
đó
là
Nhân
thân
vì
thoả
mãn
điều
kiện
theo
quy
định
tại
Khoản
2
Điều
69
BLHS
"Người
bị
kết
án
do
lỗi
vô
ý
về
tội
phạm
nghiêm
trọng
không
bị
coi
là
có
án
tích".
2.
Quan
điển
2
cho
rằng:
Trong
vụ
án
này,
Trần
Văn
T
đã
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
thử
thách
-
phạm
tội
trong
thời
gian
đang
chấp
hành
Bản
án
số
23
nên
phải
được
xác
định
là
có
Tiền
án
(Bản
án
số
23
là
Tiền
án)
do
đó
khi
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy
phải
áp
dụng
tình
tiết
tăng
nặng
TNHS
“Tái
phạm”
quy
định
tại
Điểm
h
Khoản
1
Điều
52
BLHS
để
lượng
hình,
sau
đó
mới
mới
tổng
hợp
với
hình
phạt
của
Bản
án
số
23
để
xác
định
hình
phạt
chung
của
02
bản
án.
3.
Quan
điểm
của
tác
giả:
Đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
hai
vì
*
Việc
xác
định
một
người
có
án
tích
hay
không,
đã
được
xoá
án
tích
hay
chưa?…Trước
tiên
ta
phải
xác
định
và
xem
xét
trong
trường
hợp
người
đó
đã
bị
kết
án.
Sau
đó
xem
xét
đến
việc
“Người
bị
kết
án”
đã
chấp
hành
xong
các
nghĩa
vụ
của
bản
án
đó
hay
chưa,
nếu:
-
“Người
bị
kết
án”
chưa
chấp
hành
xong
bản
án
thì
chưa
thể
xem
xét
đến
việc
xoá
án
tích
hay
chưa
vì
vấn
đề
xoá
án
tích
chỉ
đặt
ra
sau
khi
người
bị
kết
án
đã
chấp
hành
xong
các
nghĩa
vụ
của
Bản
án
và
thoả
mãn
các
điều
kiện
để
được
xoá
án
tích
theo
quy
định
tại
các
điều
từ
Điều
70
đến
Điều
73
của
BLHS.
-
Trong
vụ
án
này:
Rõ
ràng
Trần
Văn
T
chưa
chấp
hành
xong
Bản
án
số
23,
lại
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
chấp
hành
án,
nên
phải
được
xác
định
là
có
Tiền
án,
do
đó
khi
truy
cứu
TNHS
đối
với
T
về
tội
Tàng
trữ
trái
phép
chất
ma
túy
phải
xác
định
Bản
án
số
23
là
Tiền
án
để
áp
dụng
tình
tiết
tăng
nặng
TNHS
“Tái
phạm”
quy
định
tại
Điểm
h
Khoản
1
Điều
52
BLHS
là
hoàn
toàn
có
căn
cứ,
đúng
với
quy
định
tại
khoản
1
Điều
53
BLHS
"Tái
phạm
là
trường
hợp
đã
bị
kết
án,
chưa
được
xóa
án
tích
mà
lại
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
do
lỗi
cố
ý…”.
Vì
vậy
không
có
căn
cứ
để
xem
xét
áp
dụng
Khoản
2
Điều
69
BLHS.
T
bị
kết
án
về
tội
phạm
nghiêm
trọng
do
lỗi
vô
ý
>>>>
Chưa
chấp
hành
xong
bản
án
này
>>>>
chưa
đủ
điều
kiện
để
coi
là
“không
có
án
tích”
theo
Khoản
2
Điều
69
BLHS
>>>>
T
được
xác
định
là
có
án
tích,
do
đó
>>>>
Khi
T
phạm
tội
mới
do
lỗi
cố
ý,
hành
vi
này
đã
thỏa
mãn
điều
kiện
quy
định
tại
Khoản
1
Điều
53
BLHS
là
“Tái
phạm”.
Để
tăng
cường
hiệu
quả
công
tác
của
Ngành
Kiểm
sát
kiểm
sát,
không
để
xảy
ra
oan,
sai
hoặc
bỏ
lọt
tội
phạm
theo
Chỉ
thị
công
tác
của
ngành
Kiểm
sát
năm
2026.
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi,
góp
ý
của
các
đồng
nghiệp./.
Nguyễn
Hồng
Tư,
Trần
Thị
Huyền
Trang-
Kiểm
sát
viên
Viện
KSND
Khu
vực
1-
Tuyên
Quang