Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 243

   Trao đổi nghiệp vụ trong việc áp dụng quy định Khoản 2 Điều 69 BLHS đối với trường hợp người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng


Thứ tư - 28/01/2026 15:13
 
Xóa án tích là một chế định quan trọng của Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam nói chung và BLHS hiện hành (Luật số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14; Luật số 59/2021/QH15 và Luật số 86/2025/QH15): Tại Chương XI từ Điều 69 đến Điều 73 quy định về Xoá án tích. Án tích là hậu quả pháp lý của việc một người đã bị kết án. Người bị kết án nếu chưa được xóa án tích thì được coi là có án tích; Người bị kết án được xóa án tích theo quy định từ Điều 70 đến Điều 73 của BLHS.
 
Quy định về xóa án tích ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân của người bị kết án vì: Trong một số trường hợp nếu người bị kết án thuộc trường hợp chưa được xoá án tích (đang có án tích) thì đó là một trong những căn cứ để định tội danh, định khung hình phạt; quyết định hình phạt; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS)…
 
Trong thực tiễn áp dụng quy định về Xoá án tích theo BLHS hiện hành thời gian qua, mặc dù nội dung này đã được các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc áp dụng quy định trên đối với trường hợp Không bị coi là án tích đối với người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS và quy định về Tái phạm tại khoản 1 Điều 53 BLHS, còn nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau, tác giả đưa ra vụ án cụ thể như sau:
 
Bản án số 23/2024/HSST ngày 15/10/2024 (Bản án số 23), của Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TQ xử phạt bị cáo Trần Văn T: 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại Khoản 1 Điều 260 BLHS (thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 15/10/2024). Đến ngày 30/4/2025 (đang trong thời gian thử thách) Trần Văn T lại thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, còn có nhiều ý kiến, cách hiểu và quan điểm khác nhau về việc áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS để xác định Tiền án cũng như áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại Khoản 1 Điều 53 BLHS.
 
* Qua nghiên cứu nội dung vụ án trên, cũng như quy định của Pháp luật tác giả thấy rằng: Khi truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Trần Văn T thuộc trường hợp phạm tội mới trong thời gian chấp hành án (chưa được xóa án tích). Tuy nhiên, khi xem xét, đối chiếu hành vi của Trần Văn T trong tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" với quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS “2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng…không bị coi là có án tích”. Vậy, T có thể xem là trường hợp“không bị coi là có án tích”, có thuộc diện được “coi như chưa bị kết án” hay không? Vấn đề này rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc có áp dụng hay không tình tiết tăng nặng TNHS “Tái Phạm” đối với T hay chỉ xác định đó là nhân thân trong lần truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vụ án trên hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau.
 
1. Quan điểm 1 cho rằng: Khi truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Trần Văn T thuộc trường hợp không có tiền án, không có án tích. Bản án số 23 không xác định là Tiền án để làm căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” mà chỉ xác định đó là Nhân thân vì thoả mãn điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS "Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng không bị coi là có án tích".
 
2. Quan điển 2 cho rằng: Trong vụ án này, Trần Văn T đã thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách - phạm tội trong thời gian đang chấp hành Bản án số 23 nên phải được xác định là có Tiền án (Bản án số 23 là Tiền án) do đó khi truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy phải áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS để lượng hình, sau đó mới mới tổng hợp với hình phạt của Bản án số 23 để xác định hình phạt chung của 02 bản án.
 
3. Quan điểm của tác giả: Đồng tình với quan điểm thứ hai vì 
 
* Việc xác định một người có án tích hay không, đã được xoá án tích hay chưa?…Trước tiên ta phải xác định và xem xét trong trường hợp người đó đã bị kết án. Sau đó xem xét đến việc Người bị kết án” đã chấp hành xong các nghĩa vụ của bản án đó hay chưa, nếu:
 
- Người bị kết án” chưa chấp hành xong bản án thì chưa thể xem xét đến việc xoá án tích hay chưa vì vấn đề xoá án tích chỉ đặt ra sau khi người bị kết án đã chấp hành xong các nghĩa vụ của Bản án và thoả mãn các điều kiện để được xoá án tích theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của BLHS.
 
- Trong vụ án này: Rõ ràng Trần Văn T chưa chấp hành xong Bản án số 23, lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian chấp hành án, nên phải được xác định là có Tiền án, do đó khi truy cứu TNHS đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy phải xác định Bản án số 23 là Tiền án để áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS "Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý…”.  Vì vậy không có căn cứ để xem xét áp dụng Khoản 2 Điều 69 BLHS.
 
T bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do lỗi vô ý    >>>>   Chưa chấp hành xong bản án này   >>>>    chưa đủ điều kiện để coi là “không có án tích” theo Khoản 2 Điều 69 BLHS   >>>>    T được xác định là có án tích, do đó   >>>>    Khi T phạm tội mới do lỗi cố ý, hành vi này đã thỏa mãn điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 53 BLHS là “Tái phạm”.
 
Để tăng cường hiệu quả công tác của Ngành Kiểm sát kiểm sát, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm theo Chỉ thị công tác của ngành Kiểm sát năm 2026. Tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý của các đồng nghiệp./.
 
Nguyễn Hồng Tư, Trần Thị Huyền Trang- Kiểm sát viên
Viện KSND Khu vực 1- Tuyên Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top