VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
TỈNH
TUYÊN
QUANG
-
Đã
xem:
58
Vướng
mắc
trong
giải
quyết
vụ
án
Cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
theo
Điều
201
BLHS
Thứ
năm
-
23/04/2026
11:20
Trong
những
năm
gần
đây,
các
vụ
án
về
tội
Cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
theo
Điều
201
BLHS
phát
sinh
ngày
càng
nhiều
với
phương
thức,
thủ
đoạn,
phức
tạp
khác
nhau.
Ngày
20/12/2021,
Hội
đồng
thẩm
phán
Toà
án
nhân
dân
Tối
cao
đã
ban
hành
Nghị
quyết
số
01/2021/NQ-HĐTP
hướng
dẫn
áp
dụng
Điều
201
của
Bộ
luật
hình
sự
và
việc
xét
xử
vụ
án
hình
sự
về
tội
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
thống
nhất
cách
áp
dụng
pháp
luật,
giải
quyết
các
vụ
án
phát
sinh.
Ngày
29/10/2024,
Phòng
7-
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh
Tuyên
Quang
đã
có
bài
viết
đề
cập
đến
nội
dung
xác
định
tiền
gốc
cho
vay
ban
đầu
trong
giải
quyết
các
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự.
Tuy
nhiên,
đến
nay
vẫn
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
cụ
thể
về
nội
dung
này
nên
thực
tế
còn
tồn
tại
nhiều
quan
điểm
trong
quá
trình
giải
quyết,
mặt
khác
thực
tiễn
còn
phát
sinh
một
số
vướng
mắc
sau
cần
liên
ngành
Trung
Ương
hướng
dẫn
một
cách
cụ
thể:
1.
Còn
nhiều
quan
điểm
về
cách
xác
định
"
Khoản
tiền
người
phạm
tội
dùng
để
cho
vay"
để
tịch
thu
xung
công
quỹ
nhà
nước.
-
Thực
tế
đang
có
ba
luồng
quan
điểm
về
việc
xác
định
"
Khoản
tiền
người
phạm
tội
dùng
để
cho
vay".
Thứ
nhất:
Xác
định
khoản
tiền
người
phạm
tội
dùng
để
cho
vay
là
tổng
tất
cả
phần
tiền
gốc
trong
các
lần
người
phạm
tội
cho
vay,
đủ
điều
kiện
xác
định
lần
vay
đó
là
cho
vay
nặng
lãi.
Thứ
hai:
Là
khoản
tiền
dùng
để
cho
vay
lớn
nhất
trong
tất
cả
các
lần
cho
vay
vì
trong
thực
tế
nhiều
trường
hợp
người
phạm
tội
chỉ
có
một
khoản
tiền
gốc
cố
định
ban
đầu
sau
đó
cho
vay
để
phát
sinh
lãi,
rồi
lại
lấy
lãi
đưa
vào
vốn,
bổ
sung
thêm
vốn
xoay
vòng
cho
vay
để
tiếp
tục
kiếm
lời
mà
việc
chứng
minh
tách
rời
được
đâu
là
số
tiền
gốc
ban
đầu
và
đâu
là
vốn
được
bổ
sung
và
đâu
là
lãi
được
đưa
vào
sử
dụng
làm
vốn
là
không
thể
thực
hiện
được
trong
thực
tế,
do
vậy
để
đảm
bảo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
bị
cáo,
thì
chọn
khoản
tiền
cho
vay
lớn
nhất
trong
các
lần
cho
vay
để
xác
định
làm
vốn
-
khoản
tiền
người
phạm
tội
dùng
để
cho
vay.
Thứ
ba:
Phải
xác
định
được
người
phạm
tội
chỉ
dùng
một
khoản
tiền
ban
đầu
cố
định
để
làm
vốn
cho
vay
và
sau
khi
thu
hồi
được
vốn
và
phát
sinh
lãi
thì
tiếp
tục
sử
dụng
vốn
đó
(hoặc
bổ
sung
thêm
vốn)
và
lãi
đó
để
quay
vòng
cho
vay
thu
lãi
tiếp
thì
khoản
tiền
dùng
để
cho
vay
là
khoản
tiền
vốn
ban
đầu
người
cho
vay
có
để
tịch
thu
xung
công
quỹ
nhà
nước.
Theo
nhận
định
của
tác
giả
thì
cả
ba
quan
điểm
trên
đều
có
những
điểm
chưa
đảm
bảo
như
sau:
Với
quan
điểm
thứ
nhất
đảm
bảo
được
việc
xác
định
được
ý
thức
chủ
quan
của
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
đã
sử
dụng
số
tiền
mình
có
được
để
tiếp
tục
dùng
làm
phương
tiện
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
như
vậy
về
nguyên
tắc
phải
bị
tịch
thu
hết.
Tuy
nhiên
nó
rất
bất
lợi
cho
bị
cáo
vì
thực
tiễn
nhiều
vụ
việc
phát
sinh
người
thực
hiện
hành
vi
phạm
tội
chỉ
có
một
khoản
tiền
vốn
ban
đầu
hoặc
có
bổ
sung
nhưng
vẫn
nhỏ
hơn
rất
nhiều
so
với
tổng
số
tiền
cho
vay
cộng
lại.
Việc
cho
vay
diễn
ra
trong
thời
gian
dài,
do
vậy
việc
cộng
tổng
số
tiền
cho
vay
theo
các
khoản
vay
phát
sinh
trên
sổ
sách
để
tịch
thu
xung
công
quỹ
nhà
nước
là
bất
lợi
đối
với
người
phạm
tội,
có
những
con
số
không
thể
thi
hành
án
trong
thực
tế.
Mà
theo
quy
định
thì
số
tiền
lãi
trong
giới
hạn
quy
định
dưới
20%
đã
bị
tịch
thu
xung
quỹ
và
số
tiền
thu
lời
bất
chính
thì
phải
trả
lại
cho
người
vay.
Với
quan
điểm
thứ
hai,
thuận
lợi
cho
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
trong
việc
xác
định
các
khoản
tiền
liên
quan
đến
tội
phạm,
tuy
nhiên,
cách
xác
định
này
mang
tính
chất
tương
đối,
không
chỉ
ra
cho
người
giải
quyết
vụ
án
được
một
cách
rõ
ràng
về
bản
chất
của
dòng
tiền.
Với
quan
điểm
thứ
ba
thì
rất
khó
xác
định
được
trong
thực
tiễn,
bởi
thực
tiễn
phát
sinh
tội
phạm
rất
phức
tạp,
dòng
tiền
luôn
vận
động
và
chuyển
đổi
từ
vai
trò
này
sang
vai
trò
khác
tuỳ
vào
từng
thời
điểm
và
ý
thức
chủ
quan
của
con
người.
Rất
ít
hoặc
không
có
những
vụ
việc
mà
có
thể
xác
định
một
cụ
thể
như
vậy,
dẫn
đến
nhiều
khó
khăn
vướng
mắc
trong
quá
trình
điều
tra.
Tuy
nhiên
tác
giả
đồng
tình
hơn
với
quan
điểm
giải
quyết
thứ
hai
vì:
sát
với
thực
tiễn
diễn
ra
đối
với
các
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự,
tránh
được
bất
lợi
cho
người
phạm
tội.
2.
Vấn
đề
về
xác
định
thời
hạn
cho
vay
theo
thoả
thuận
hay
thời
gian
vay
thực
tế
diễn
ra
để
xác
định
là
thời
gian
vay
trong
cách
tính
xác
định
số
tiền
thu
lời
bất
chính
để
xử
lý
trách
nhiệm
hình
sự.
Đối
với
những
trường
hợp
thời
gian
vay
thực
tế
bằng
hoặc
lớn
hơn
thời
hạn
vay
đã
thoả
thuận
và
đã
thu
lãi
theo
thực
tế
thì
dùng
thời
gian
vay
thực
tế
đó
để
tính
xác
định
khoản
tiền
thu
lời
bất
chính.
Thì
cách
xác
định
thu
lời
bất
chính
theo
quy
định
tại
Nghị
Quyết
số
01/2021/NQ-
HĐTP
Tuy
nhiên,
thực
tế
có
trường
hợp
cụ
thể,
khi
phát
sinh
khoản
vay
hai
bên
thoả
thuận
thời
hạn
cho
vay
và
thu
tiễn
lãi,
trừ
vào
tiền
gốc
vay
ngay
thời
điểm
giao
nhận
tiền
gốc.
Số
tiền
lãi
đó
là
cho
thời
hạn
vay
theo
thoả
thuận.
Nhưng
sau
đó,
do
không
có
nhu
cầu
sử
dụng
hết
thời
hạn
đã
thoả
thuận,
người
vay
trả
tiền
gốc
cho
người
cho
vay
trước
thời
hạn,
nhưng
không
yêu
cầu
trả
lại
tiền
lãi
còn
thừa
(hoặc
bên
cho
vay
không
trả
lại
số
tiền
lãi
còn
thừa).
Trong
trường
hợp
này,
thì
sử
dụng
thời
gian
vay
là
số
ngày
theo
thời
hạn
đã
thoả
thuận
hay
số
ngày
vay
thực
tế
diễn
ra
để
xác
định
khoản
tiền
thu
lời
bất
chính.
Hiện
tại
đang
có
hai
quan
điểm
về
vấn
đề
này
như
sau:
Thứ
nhất:
Sử
dụng
thời
gian
cho
vay
là
thời
hạn
theo
thoả
thuận
để
xác
định
khoản
tiền
thu
lời
bất
chính
vì
số
lãi
người
cho
vay
đã
thu
là
cho
thời
hạn
đã
thoả
thuận.
Việc
người
vay
tiền
tự
nguyện
trả
tiền
trước
hạn
và
không
yêu
cầu
trả
lại
lãi
còn
thừa
là
quyền
của
người
vay.
Để
đảm
bảo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
bị
can,
bị
cáo
cần
xác
định
thời
hạn
theo
thoả
thuận
là
thời
gian
để
tính
khoản
tiền
thu
lời
bất
chính.
Thứ
hai:
Sử
dụng
thời
gian
thực
tế
diễn
ra
việc
cho
vay
để
tính
khoản
thu
lời
bất
chính
để
xác
định
một
cách
khách
quan
nhất
hoạt
động
cho
vay
và
xác
định
chính
xác
khoản
tiền
thu
lời
bất
chính.
Theo
quy
định
Khoản
2
Điều
6
của
Nghị
quyết
số
01/2021
thì:
"2.
Trường
hợp
cho
vay
lãi
nặng
chưa
hết
thời
hạn
vay
theo
thỏa
thuận
mà
bị
phát
hiện
thì
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
để
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự
bao
gồm
tiền
lãi
và
các
khoản
thu
trái
pháp
luật
khác
mà
người
vay
phải
trả
cho
người
cho
vay
sau
khi
trừ
đi
số
tiền
lãi
tương
ứng
với
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của Bộ
luật
Dân
sự tính
đến
thời
điểm
cơ
quan
có
thẩm
quyền
phát
hiện
và
ngăn
chặn.
Trường
hợp
bên
vay
đã
trả
tiền
lãi
trước
hạn
và
các
khoản
thu
trái
pháp
luật
khác
thì
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
để
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự
bao
gồm
tiền
lãi
và
các
khoản
thu
trái
pháp
luật
khác
mà
người
vay
thực
tế
đã
trả
cho
người
cho
vay
sau
khi
trừ
đi
số
tiền
lãi
tương
ứng
với
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của Bộ
luật
Dân
sự."
Tuy
nhiên,
vẫn
còn
nhiều
quan
điểm
trong
cách
hiểu
hai
từ
"thực
tế"
trong
quy
định
trên,
vì
số
tiền
lãi
này
thì
thực
tế
người
cho
vay
đã
thu
của
người
vay,
còn
thời
gian
vay
thì
xác
định
là
thời
gian
theo
thực
tế
hay
theo
thoả
thuận
trước.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
xác
định
thời
gian
vay
theo
thực
tế
để
tính
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
mới
giải
quyết
được
triệt
để
hành
vi
sai
phạm
của
người
phạm
tội.
Tác
giả
xin
được
tiếp
tục
nêu
ra
đây
quan
điểm,
xin
ý
kiến
của
độc
giả
và
đề
xuất
liên
ngành
cơ
quan
tố
tụng
cấp
trên
có
những
hướng
dẫn
cụ
thể
để
áp
dụng
thống
nhất
khi
xử
lý
đối
với
tội
phạm
này./.