Công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự,
hôn
nhân
và
gia
đình,
kinh
doanh,
thương
mại,
lao
động
(gọi
chung
là
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự)
là
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
(VKSND),
nhằm
bảo
đảm
cho
việc
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
của
Tòa
án
kịp
thời,
đúng
pháp
luật.
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016,
của
Uỷ
ban
Thường
vụ
Quốc
Hội
khoá
X14
(Nghị
quyết
326):
quy
định
về
mức
thu
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án,
tạm
ứng
án
phí,
tạm
ứng
lệ
phí
Tòa
án;
nghĩa
vụ
nộp
tiền
tạm
ứng
án
phí,
tạm
ứng
lệ
phí
Tòa
án;
nghĩa
vụ
chịu
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án; trường
hợp không
phải
nộp,
không
phải
chịu, miễn,
giảm
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án;
xét
miễn,
giảm,
thời
hạn
nộp,
chế độ
thu,
nộp,
quản
lý,
xử
lý
tạm
ứng
án
phí,
án
phí,
tạm
ứng
lệ
phí
Tòa
án,
lệ
phí
Tòa
án;
kiểm
sát
việc
thu,
nộp,
miễn,
giảm
và
giải
quyết
khiếu
nại
về
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án.
Trong
quá
trình
giải
quyết
các
vụ
án
dân
sự,
Tòa
án
tiến
hành
hòa
giải
và
khi
các
đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
toàn
bộ
vụ
án,
thì
Thẩm
phán
ra
Quyết
định
công
nhận
sự
thoả
thuận
của
các
đương
sự,
hoặc
Quyết
định
công
nhận
thuận
tình
ly
hôn
và
thỏa
thuận
của
các
đương
sự.
Việc
ra
Quyết
định
công
nhận
sự
thoả
thuận
của
đương
sự
góp
phần
rút
ngắn
thời
gian
tố
tụng,
giảm
chi
phí
xã
hội
và
nâng
cao
hiệu
quả
giải
quyết
tranh
chấp.
Tuy
nhiên,
trong
một
số
loại
quyết
định
trên
vấn
đề
xác
định
nghĩa
vụ
chịu
án
phí
sơ
thẩm
khi
các
đương
sự
thoả
thuận
thống
nhất
để
một
bên
tự
nguyện
chịu
toàn
bộ
nghĩa
vụ
về
án
phí,
còn
tồn
tại
02
cách
hiểu
khác
nhau,
dẫn
đến
chưa
thống
nhất
trong
áp
dụng
pháp
luật:
*
Quan
điểm
1:
Trong
quyết
định
của
Toà
án
ghi
“Ông
A
phải
chịu
toàn
bộ
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
….
là…”
là
chưa
đúng
bản
chất
vụ
việc,
không
đúng
quy
định
của
pháp
luật
vì:
-
Nếu
ghi
“phải
chịu’
là
chưa
phản
ánh
đúng
bản
chất
thoả
thuận
của
các
đương
sự,
việc
sử
dụng
cụm
từ
"phải
chịu"
là
sự
xác
định
nghĩa
vụ
bắt
buộc,
quy
kết,
mang
tính
phán
quyết
của
Tòa
án
và
điều
này
chỉ
áp
dụng
khi
Toà
án
xét
xử
đối
với
vụ
án,
vụ
việc
và
buộc
chủ
thể
có
nghĩa
vụ
phải
thực
hiện
một
trách
nhiệm
pháp
lý
bắt
buộc.
Trong
khi
đó
tại
Khoản
3
Điều
147
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định: “Nếu
các
đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
vụ
án
trước
khi
mở
phiên
tòa
thì
họ
chỉ
phải
chịu
50%
mức
án
phí
sơ
thẩm”
và
tại
Khoản
7
Điều
26
Nghị
quyết
số
326
quy
định: “Các
bên
đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
vụ
án…thì
phải
chịu
50%
mức
án
phí,
kể
cả
đối
với
vụ
án
không
có
giá
ngạch”
(mỗi
bên
phải
chịu
một
nửa).
-
Trong
tố
tụng
dân
sự
nguyên
tắc
cơ
bản
là
quyền
quyết
định
và
tự
định
đoạt
của
đương
sự
được
ghi
nhận
tại
Điều
5
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
đó
là
“Trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
việc
dân
sự
đương
sự
có
quyền
thỏa
thuận
với
nhau
một
cách
tự
nguyện,
không
vi
phạm
điều
cấm
của
luật
và
không
trái
đạo
đức
xã
hội”.
Do
vậy
trong
các
trường
hợp
thoả
thuận
trên
thì
ông
A
ngoài
trách
nhiệm
bắt
buộc
phải
chịu
phần
án
phí
của
bản
thân
theo
quy
định
ra,
ông
A
còn
tự
nguyện
nhận
thực
hiện
thay
phần
nghĩa
vụ
về
án
phí
của
đương
sự
khác
trong
vụ
án…do
đó
trong
quyết
định
của
Toà
án
nếu
sử
dụng
cụm
từ
“Phải
chịu”
thì
chỉ
đúng
với
phần
nghĩa
vụ
phải
chịu
50%
mức
án
phí
của
ông
A;
còn
đối
với
50%
mức
án
phí
của
đương
sự
khác
phải
chịu
nhưng
ông
A
tự
nguyện
nhận
nộp
thay
là
không
đúng
với
nguyên
tắc
cơ
bản
trên
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự;
-
Theo
quan
điểm
trên
thì:
Đối
với
vụ
án,
vụ
việc
khi
hòa
giải,
các
đương
sự
đã
tự
thương
lượng,
tự
nguyện
thỏa
thuận
với
nhau
để
giải
quyết
vụ
án
thì
Tòa
án
chỉ
ra
quyết
định
công
sự
thỏa
thuận
của
đương
sự
mà
không
đưa
ra
bất
kỳ
quyết
định
mang
tính
bắt
buộc
nào,
kể
cả
quyết
định
về
chịu
án
phí.
Do
đó
để
phù
hợp
thì
quyết
định
phải
ghi
là
“Ông
A
tự
nguyện
chịu
(hoặc
nhận
chịu)
toàn
bộ
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
….
là
150.000đ”
*
Quan
điểm
2:
Nội
dung
quyết
định
ghi
"Ông
A
phải
chịu
toàn
bộ
án
phí
dân
sự
(án
phí
ly
hôn)
sơ
thẩm
150.000đ"
là
đúng
quy
định.
Tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
này
và
thấy
cách
ghi
"phải
chịu"
là
phù
hợp
với
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng
dân
sự
và
Nghị
quyết
326
bởi
lẽ
sau:
-
Tại
Khoản
3
Điều
147
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
quy
định:
“Nếu
các
đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
vụ
án
trước
khi
mở
phiên
tòa
thì
họ
chỉ
phải
chịu
50%
mức
án
phí
sơ
thẩm”
và
tại
Khoản
7
Điều
26
Nghị
quyết
số
326
quy
định: “Các
bên
đương
sự
thỏa
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
vụ
án…thì
phải
chịu
50%
mức
án
phí,
kể
cả
đối
với
vụ
án
không
có
giá
ngạch”.
Quy
định
trên,
đều
sử
dụng
cụm
từ
“Phải
chịu”;
-
Cách
ghi
"Ông
A
phải
chịu
toàn
bộ
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
…",
trong
trường
hợp
trên
là
đúng
và
phù
hợp
với
quy
định
của
pháp
luật
tố
tụng
dân
sự
vì:
Án
phí
dân
sự
là
khoản
tiền
(tài
chính)
mà
đương
sự
trong
vụ
án
có
nghĩa
vụ
phải
nộp
vào
ngân
sách
nhà
nước
theo
quyết
định
của
Tòa
án.
Tòa
án
là
cơ
quan
phán
quyết
nên
dù
nguồn
gốc
của
nghĩa
vụ
này
xuất
phát
từ
sự
"tự
nguyện
thỏa
thuận"
giữa
các
đương
sự,
nhưng
một
khi
đã
đưa
vào
Quyết
định
của
Tòa
án
thì
nó
phải
là
phán
quyết
mang
tính
chất
pháp
lý
để
xác
định
nghĩa
vụ
bắt
buộc,
có
hiệu
lực
pháp
luật.
Do
đó,
Tòa
án
phải
sử
dụng
từ
ngữ
pháp
lý
mang
tính
mệnh
lệnh
đó
là
"phải
chịu"
để
làm
căn
cứ
cho
việc
thi
hành
quyết
định
sau
này
(có
thể
cưỡng
chế
thực
hiện
nếu
đương
sự
không
tự
nguyện
nộp);
-
Ngoài
ra,
đến
thời
điểm
hiện
tại
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
,
Nghị
quyết
326
và
các
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành
của
ngành
Toà
án
không
có
quy
định
nào
quy
định
về
việc
dùng
từ
ngữ
pháp
lý
“Nhận
chịu
hay
tự
nguyện
chịu”;
Với
những
căn
cứ
pháp
lý,
phân
tích,
nhận
định
trên:
nhóm
tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
trao
đổi,
góp
ý
của
các
đồng
nghiệp./.
Nhóm
tác
giả:
Hủng
Thị
Minh,
Hứa
Như
Quỳnh,
Phạm
Thị
Mai