Trong
thời
gian
qua,
các
cơ
quan
có
thẩm
quyền
đã
ban
hành
nhiều
văn
bản
quy
phạm
pháp
luật
và
tổng
hợp
giải
đáp
những
vướng
mắc
trong
áp
dụng
Bộ
luật
hình
sự.
Tuy
nhiên,
vẫn
còn
bộc
lộ
những
quan
điểm
khác
nhau
về
việc
áp
dụng
pháp
luật
về
tình
tiết
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự
được
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
51
Bộ
luật
hình
sự
(BLHS)
năm
2015
cụ
thể
như
sau:
Theo
tài
liệu
giải
đáp
một
số
vướng
mắc
trong
áp
dụng
Bộ
luật
hình
sự
và
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
hiện
nay
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
cao
tại
Hà
Nội
năm
2020
cho
rằng:
Việc
bị
cáo
đã
hoàn
trả
toàn
bộ
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
cho
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
thì
áp
dụng
điểm
b
khoản
1
Điều
51
Bộ
luật
hình
sự.
Căn
cứ
Điều
201
và
Nghị
quyết
số
01/2021/NQ-HĐTP
ngày
20/12/2021
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
TANDTC
“Hướng
dẫn
áp
dụng
Điều
201
BLHS
và
việc
xét
xử
vụ
án
hình
sự
về
tội
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự”
thì
“Thu
lợi
bất
chính
là
số
tiền
lãi
vượt
quá
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của
Bộ
luật
dân
sự
và
các
khoản
thu
trái
pháp
luật
khác
của
người
vay”.
Như
vậy,
thu
lợi
bất
chính
của
bị
cáo
là
thiệt
hại
của
người
vay
nên
từng
trường
hợp
bị
cáo
nộp
trả
lại
cho
người
vay
toàn
bộ
khoản
thu
lợi
bất
chính
là
tình
tiết
giảm
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự,
theo
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
51
Bộ
luật
hình
sự.
Với
quan
điểm
nêu
trên,
tác
giả
nhận
thấy:
Việc
bị
cáo
đã
hoàn
trả
toàn
bộ
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
cho
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
thì
áp
dụng
điểm
b
khoản
1
Điều
51
Bộ
luật
Hình
sự,
là
chưa
phù
hợp,
bởi
lẽ:
Theo
quy
định
tại
Điều
62
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
(BLTTHS):“Bị
hại
là
cá
nhân
trực
tiếp
bị
thiệt
hại
về
vật
chất,
tinh
thần,
tài
sản
hoặc
là
cơ
quan,
tổ
chức
bị
thiệt
hại
về
tài
sản,
uy
tín
do
tội
phạm
gây
ra
hoặc
đe
doạ
gây
ra”.
Như
vậy,
được
hiểu
bị
hại
bị
tội
phạm
gây
thiệt
hại
hoặc
đe
doạ
gây
thiệt
hại
trực
tiếp
có
nghĩa
là
thiệt
hại
của
bị
hại
phải
là
đối
tượng
tác
động
của
tội
phạm,
tức
là
phải
có
mối
quan
hệ
nhân
quả
giữa
hành
vi
phạm
tội
với
hậu
quả
của
tội
phạm,
cùng
với
thiệt
hại
trực
tiếp
do
tội
phạm
gây
ra,
bị
hại
còn
có
thể
bị
gây
thiệt
hại
gián
tiếp
(Ví
dụ
trong
vụ
án
Cố
ý
gây
thương
tích,
ngoài
tổn
thiệt
hại
trực
tiếp
về
tổn
thương
cơ
thể,
chi
phí
điều
trị...;
còn
có
thiệt
hại
gián
tiếp
như
bị
mất
thu
nhập...;
Theo
quy
định
tại
Điều
65
BLTTHS:
“Người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
là
cá
nhân,
cơ
quan,
tổ
chức
có
quyền
lợi
liên
quan
đến
vụ
án
hình
sự”.
Như
vậy,
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
được
hiểu
là
người
không
tham
gia
vào
việc
thực
hiện
tội
phạm
hoặc
có
tham
gia
vào
việc
thực
hiện
tội
phạm
mà
không
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
hoặc
được
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
nhưng
vẫn
phải
đưa
vào
tham
gia
tố
tụng
để
xử
lý
theo
pháp
luật
về
quyền,
nghĩa
vụ
về
tài
sản
của
họ
có
liên
quan
đến
tội
phạm
hoặc
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
bị
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
các
quyết
định
tố
tụng
của
Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát,
Toà
án.
Do
đó,
nếu
là
người
có
quyền
lợi
liên
quan
đến
vụ
án
thì
xác
định
tư
cách
là
người
có
quyền
lợi
liên
quan,
trường
hợp
nếu
chỉ
có
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
thì
xác
định
họ
là
người
có
nghĩa
vụ
liên
quan,
trường
hợp
vừa
có
quyền
lợi,
vừa
có
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án
thì
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
họ
là
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
đến
vụ
án.
Theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
62
BLTTHS,
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
của
họ
có
14
quyền
(từ
điểm
a
đến
điểm
0),
trong
đó
điểm
m
Khoản
2
Điều
62
BLTTHS
quy
định
“Bị
hại
có
quyền
kháng
cáo,
quyết
định
của
bản
án”;
Theo
quy
định
tại
Khoản
2,
Điều
65
BLTTHS,
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
hoặc
người
đại
diện
hợp
pháp
của
họ
có
09
quyền
(từ
điểm
a
đến
điểm
i),
trong
đó
điểm
g
Khoản
2,
Điều
65
BLTTHS
quy
định
họ
chỉ
có
quyền
“kháng
cáo
bản
án,
quyết
định
của
Toà
án
về
những
vấn
đề
trực
tiếp
liên
quan
đến
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
của
mình”.
Từ
những
phân
tích
nêu
trên,
xác
định
tư
cách
người
tham
gia
tố
tụng
giữa
người
bị
hại
(Điều
62
BLTTHS)
và
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
(Điều
65
BLTTHS)
trong
vụ
án
hình
sự
là
khác
nhau.
Do
đó,
xác
định
trách
nhiệm
bồi
thường
của
bị
cáo
cho
người
bị
hại
và
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan,
trong
trường
hợp
này
tác
giả,
nhận
thấy:
Thu
lợi
bất
chính
của
bị
cáo,
là
thiệt
hại
của
người
vay
mà
bị
cáo
nộp
lại
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
cho
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
trong
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
thì
áp
dụng
tình
tiết
giảm
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự
theo
khoản
2
Điều
51
Bộ
luật
hình
sự,
mới
phù
hợp
với
quy
định
của
pháp
luật.
Trên
đây
là
một
số
ý
kiến
trao
đổi
của
tác
giả
trong
việc
áp
dụng
pháp
luật,
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
tham
gia
của
bạn
đọc.
Cấn
Văn
Tuấn
-
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang