VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
TỈNH
TUYÊN
QUANG
-
Đã
xem:
6987
Bàn
về
những
vướng
mắc
liên
quan
đến
việc
phân
loại
tội
phạm
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
theo
quy
định
của
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015.
Thứ
tư
-
13/07/2016
14:25
Quy
định
về
trách
nhiệm
hình
sự
của
pháp
nhân
thương
mại
là
một
chế
định
mới
được
ghi
nhận
trong
Luật
hình
sự
năm
2015.
Từ
việc
ghi
nhận
chế
định
này,
các
quy
định
cơ
bản
của
Bộ
luật
hình
sự
cũng
có
sự
sửa
đổi,
bổ
sung
cho
phù
hợp
như
Khái
niệm
tội
phạm
(Điều
8),
Nguyên
tắc
xử
lý
(Điều
3),
Hiệu
lực
của
Bộ
luật
hình
sự
(Chương
II)
v.v…
tuy
nhiên
vẫn
còn
có
những
khó
khăn,
vướng
mắc
cần
được
hướng
dẫn
để
việc
áp
dụng
Bộ
luật
hình
sự
được
chính
xác,
tôi
xin
đưa
ra
để
bạn
đọc
cùng
tham
khảo.
Tại
Điều
9
của
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
quy
định
về
phân
loại
tội
phạm
về
cơ
bản
vẫn
được
giữ
nguyên
theo
Điều
8
của
Bộ
luật
hình
sự
năm
1999,
cụ
thể:
“Căn
cứ
vào
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
của
hành
vi
phạm
tội
được
quy
định
trong
Bộ
luật
này,
tội
phạm
được
phân
thành
bốn
loại
sau
đây:
1.
Tội
phạm
ít
nghiêm
trọng
là
tội
phạm
có
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
không
lớn
mà
mức
cao
nhất
của
khung
hình
phạt
do
Bộ
luật
này
quy
định
đối
với
tội
ấy
là
phạt
tiền,
phạt
cải
tạo
không
giam
giữ
hoặc
phạt
tù
đến
03
năm;
2.
Tội
phạm
nghiêm
trọng
là
tội
phạm
có
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
lớn
mà
mức
cao
nhất
của
khung
hình
phạt
do
Bộ
luật
này
quy
định
đối
với
tội
ấy
là
từ
trên
03
năm
đến
07
năm
tù;
3.
Tội
phạm
rất
nghiêm
trọng
là
tội
phạm
có
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
rất
lớn
mà
mức
cao
nhất
của
khung
hình
phạt
do
Bộ
luật
này
quy
định
đối
với
tội
ấy
là
từ
trên
07
năm
đến
15
năm
tù;
4.
Tội
phạm
đặc
biệt
nghiêm
trọng
là
tội
phạm
có
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
đặc
biệt
lớn
mà
mức
cao
nhất
của
khung
hình
phạt
do
Bộ
luật
này
quy
định
đối
với
tội
ấy
là
từ
trên
15
năm
đến
20
năm
tù,
tù
chung
thân
hoặc
tử
hình”.
Quy
định
nêu
trên
khi
áp
dụng
để
phân
loại
các
tội
phạm
cụ
thể
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội,
có
thể
dẫn
đến
hai
cách
hiểu
khác
nhau:
-
Cách
hiểu
thứ
nhất:
Do
không
có
một
điều
luật
nào
quy
định
việc
phân
loại
tội
phạm
áp
dụng
riêng
đối
với
pháp
nhân
thương
mại,
do
vậy
Điều
9
nêu
trên
sẽ
được
áp
dụng
chung
cho
tất
cả
các
trường
hợp
bất
kể
chủ
thể
của
tội
phạm
là
cá
nhân
hay
pháp
nhân.
Hình
phạt
áp
dụng
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
chủ
yếu
là
phạt
tiền,
và
cũng
chỉ
có
hình
phạt
tiền
được
quy
định
là
một
trong
những
căn
cứ
để
phân
loại
tội
phạm
đối
với
loại
chủ
thể
này,
cho
nên,
tội
phạm
mà
các
pháp
nhân
thương
mại
thực
hiện
sẽ
luôn
thuộc
trường
hợp
tội
phạm
ít
nghiêm
trọng
-
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
9
nêu
trên.
Nếu
hiểu
theo
cách
thứ
nhất
trên
đây
sẽ
thấy
sự
bất
hợp
lý
trong
quy
định
về
phân
loại
tội
phạm,
khi
rõ
ràng
tính
chất,
mức
độ
nguy
hiểm
cũng
như
hậu
quả
đối
với
xã
hội
của
hành
vi
phạm
tội
do
pháp
nhân
thương
mại
thực
hiện
quy
định
tại
từng
điểm
là
khác
nhau,
có
trường
hợp
gây
thiệt
hại
chỉ
về
tài
sản,
có
trường
hợp
gây
thiệt
hại
đến
tính
mạng,
sức
khỏe
của
nhiều
người,
có
trường
hợp
gây
ảnh
hưởng
xấu
đến
an
ninh,
trật
tự,
an
toàn
xã
hội...
nhưng
lại
bị
xếp
vào
cùng
một
loại
tội
phạm,
bất
kể
số
tiền
là
cao
hay
thấp
hay
có
sự
phân
thành
các
mức
khác
nhau
tương
ứng
với
từng
điều,
khoản.
Theo
tôi,
cách
hiểu
như
vậy
là
không
đúng
với
bản
chất
của
hành
vi
phạm
tội
do
pháp
nhân
thương
mại
thực
hiện.
Bởi
không
thể
căn
cứ
vào
hình
phạt
tiền
được
áp
dụng
để
xác
định
tội
phạm
do
pháp
nhân
thương
mại
thực
hiện
trong
các
trường
hợp
này
là
tội
phạm
ít
nghiêm
trọng.
Do
đặc
điểm
của
pháp
nhân
là
một
chủ
thể
pháp
luật
có
sự
độc
lập
trong
tài
chính,
được
thành
lập
ra
để
hoạt
động
kinh
doanh
vì
mục
tiêu
lợi
nhuận
nên
việc
áp
dụng
hình
phạt
tiền
đối
với
pháp
nhân
là
nhằm
đảm
bảo
tính
răn
đe,
có
hiệu
quả
cũng
như
phù
hợp
với
bản
chất
của
nó.
Nếu
như
hình
phạt
tù
được
phân
ra
các
khung
hình
phạt
khác
nhau
tương
ứng
với
mức
độ
nguy
hiểm
của
hành
vi
do
cá
nhân
thực
hiện,
thì
hình
phạt
tiền
áp
dụng
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
được
phân
ra
thành
các
mức
khác
nhau
cũng
có
ý
nghĩa
như
vậy.
- Cách
hiểu
thứ
hai:
Dựa
vào
cách
xây
dựng
trong
mỗi
điều
luật
có
quy
định
về
trách
nhiệm
hình
sự
áp
dụng
đối
với
pháp
nhân,
có
thể
căn
cứ
theo
khung
hình
phạt
áp
dụng
đối
với
cá
nhân
để
phân
loại
tội
phạm
tương
ứng
đối
với
pháp
nhân,
các
tình
tiết
định
khung
cũng
tương
ứng
được
áp
dụng
chung
cho
cả
hai
loại
chủ
thể.
Bởi
về
cơ
bản[1],
các
điều
luật
quy
định
về
tội
phạm
mà
pháp
nhân
thương
mại
có
thể
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
được
thiết
kế
tương
tự
nhau,
đó
là
sau
khi
nêu
các
khung
hình
phạt
được
áp
dụng
đối
với
cá
nhân
phạm
tội
sẽ
có
một
khoản
nêu
các
mức
hình
phạt
được
áp
dụng
với
pháp
nhân
có
hành
vi
phạm
tội
tương
ứng
với
các
khoản
đã
quy
định
trước
đó
về
hành
vi
phạm
tội
của
cá
nhân:
điểm
a
(của
khoản
quy
định
về
hành
vi
phạm
tội
của
pháp
nhân)
tương
ứng
với
hành
vi
phạm
tội
(của
cá
nhân)
quy
định
tại
khoản
1,
điểm
b
tương
ứng
với
khoản
2,
điểm
c,
d
tương
ứng
với
khoản
3,
4
(nếu
có)...
Ví
dụ
tại
khoản
1
Điều
193
quy
định:
“Người
nào
sản
xuất,
buôn
bán
hàng
giả
là
lương
thực,
thực
phẩm,
phụ
gia
thực
phẩm
thì
bị
phạt
tù
từ
02
năm
đến
05
năm”,
đối
chiếu
với
quy
định
tại
Điều
9
của
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
thì
tội
phạm
quy
định
tại
khoản
1
Điều
193
nêu
trên
thuộc
trường
hợp
tội
phạm
nghiêm
trọng,
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này
sẽ
được
xác
định
là
tội
phạm
nghiêm
trọng;
phạm
tội
có
tình
tiết
Thu
lợi
bất
chính
từ
500.000.000
đồng
đến
dưới
1.500.000.000
đồng,
nếu
là
cá
nhân
thì
bị
phạt
tù
theo
khung
hình
phạt
của
khoản
3
điều
này
là
từ
10
năm
đến
15
năm,
tức
là
loại
tội
phạm
rất
nghiêm
trọng,
thì
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
3
điều
này
cũng
được
xác
định
là
loại
tội
phạm
rất
nghiêm
trọng.
Theo
tôi,
cách
hiểu
này
có
phần
linh
hoạt
và
hợp
lý
hơn
cách
hiểu
thứ
nhất
bởi
nó
có
thể
áp
dụng
để
đánh
giá
và
xác
định
được
đúng
tính
chất,
mức
độ
nguy
hiểm
của
hành
vi
phạm
tội
do
pháp
nhân
thương
mại
thực
hiện
tương
ứng
với
các
mức
hình
phạt
quy
định
tại
các
điểm
a,
b,
c...
trong
mỗi
khoản
-
điều.
Nhưng
hiểu
như
vậy
có
phần
suy
đoán,
cũng
như
không
có
căn
cứ
chắc
chắn,
cụ
thể
nào
để
làm
cơ
sở
cho
cách
hiểu
này.
Thêm
vào
đó,
cả
hai
cách
giải
thích
nêu
trên
đều
chưa
giải
quyết
được
vướng
mắc
sau
đây.
Theo
quy
định
tại
Điều
33
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015,
các
hình
phạt
chính
áp
dụng
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
không
chỉ
có
phạt
tiền
mà
còn
bao
gồm
cả
hình
phạt
đình
chỉ
hoạt
động
có
thời
hạn
và
đình
chỉ
hoạt
động
vĩnh
viễn;
và
theo
nguyên
tắc
quy
định
tại
khoản
3
của
Điều
này,
đối
với
mỗi
tội
phạm,
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
chỉ
bị
áp
dụng
một
hình
phạt
chính.
Như
vậy,
trong
những
trường
hợp
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
bị
áp
dụng
hình
phạt
đình
chỉ
(có
thời
hạn
hoặc
vĩnh
viễn)
thì
tội
phạm
trong
trường
hợp
này
được
phân
loại
là
tội
phạm
gì?
Điều
79
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
quy
định
về
hình
phạt
đình
chỉ
hoạt
động
vĩnh
viễn
áp
dụng
đối
pháp
pháp
nhân
thương
mại
trong
hai
trường
hợp:
Pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
gây
thiệt
hại
hoặc
có
khả
năng
thực
tế
gây
thiệt
hại
đến
tính
mạng
của
nhiều
người,
gây
sự
cố
môi
trường
hoặc
gây
ảnh
hưởng
xấu
đến
an
ninh,
trật
tự,
an
toàn
xã
hội
và
không
có
khả
năng
khắc
phục
hậu
quả
gây
ra
hoặc
Pháp
nhân
thương
mại
được
thành
lập
chỉ
để
thực
hiện
tội
phạm.
Như
vậy,
nếu
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
Điều
79,
tương
ứng
với
mỗi
tội
danh
trong
phạm
vi
điều
76
quy
định,
thì
bị
đình
chỉ
hoạt
động
vĩnh
viễn.
Nếu
đánh
giá
tính
chất
và
mức
độ
nguy
hiểm
cho
xã
hội
thì
trường
hợp
này
có
thể
xác
định
là
tội
phạm
đặc
biệt
nghiêm
trọng,
nhưng
căn
cứ
vào
đâu
để
phân
loại
tội
phạm
trong
trường
hợp
đó?
Xuất
phát
từ
những
vấn
đề
nêu
trên,
nếu
không
có
hướng
dẫn
cụ
thể
sẽ
dẫn
đến
sự
không
thống
nhất
trong
việc
áp
dụng
pháp
luật
hình
sự
và
tố
tụng
hình
sự
để
giải
quyết
các
vụ
án
có
chủ
thể
là
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội,
không
chỉ
trong
việc
phân
loại
tội
phạm
mà
còn
liên
quan
đến
các
vấn
đề
như
xác
định
thời
hiệu
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự,
căn
cứ
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
(Điều
27,
Điều
29
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015),
thời
hạn
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
(Điều
172,
173,
240,
241,
277,
278
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
năm
2015),
thời
hạn
áp
dụng
các
biện
pháp
cưỡng
chế
đối
với
pháp
nhân...
Trên
đây
là
quan
điểm
của
tôi
về
một
số
vướng
mắc
liên
quan
đến
việc
phân
loại
tội
phạm
áp
dụng
đối
với
pháp
nhân
thương
mại
phạm
tội
theo
quy
định
của
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015,
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
trao
đổi
từ
phía
bạn
đọc.
Phạm
Thị
Hoàng
Anh
[1]
Nói
là
về
cơ
bản
bởi
vẫn
có
điều
luật
không
tuân
theo
cách
thiết
kế
như
phân
tích
nêu
trên,
như
Điều
213
quy
định
về
Tội
gian
lận
trong
kinh
doanh
bảo
hiểm.