Để
đáp
ứng
yêu
cầu
đấu
tranh
phòng,
chống
tội
phạm
xâm
phạm
trật
tự
quản
lý
kinh
tế,
Bộ
luật
hình
sự đã
quy
định
rất
cụ
thể
về
nhóm
tội
phạm
này.
Tuy
nhiên,
trong
thực
tiễn
điều
tra,
truy
tố
và
xét
xử,
chúng
tôi
thấy
rằng
còn
một
số
vướng
mắc,
bất
cập
khi
áp
dụng
pháp
luật
liên
quan
đến
các
tội
“Sản
xuất,
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
hàng
cấm”
theo
quy
định
tại
Điều
155
BLHS
1999
và
tại
các
Điều
190,
Điều
191
BLHS
năm
2015.
*
Thứ
nhất:
Vướng
mắc
trong
việc
xác
định
pháo
có
phải
là
mặt
hàng
cấm
hay
là
mặt
hàng
kinh
doanh
có
điều
kiện?
Từ
trước
đến
nay,
pháo
và
thuốc
lá
luôn
đi
kèm
với
những
tác
hại
khó
lường,
ảnh
hưởng
xấu
đến
tính
mạng,
sức
khỏe
của
con
người,
đến
trật
tự
quản
lý
kinh
tế
và
trị
an
xã
hội.
Do
đó,
Nhà
nước
đã
quy
định
cụ
thể:
“pháo
các
loại”
thuộc
Danh
mục
hàng
hóa
cấm
kinh
doanh
tại
Nghị
định
số
59/2006/NĐ
-
CP
ngày
12/06/2006
của
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
Luật
thương
mại
về
hàng
hóa,
dịch
vụ
cấm
kinh
doanh,
hạn
chế
kinh
doanh
và
kinh
doanh
có
điều
kiện
(được
sửa
đổi,
bổ
sung
theo
Nghị
định
số
43/2009/NĐ
–
CP
ngày
07/5/2009
và
hợp
nhất
theo
Văn
bản
số
19/VBHN
–
BCT
ngày
09/5/2014).
Tại
Thông
tư
liên
tịch
số
06/2008/TTLT-BCA-VKNDTC-TANDTC
ngày
25/12/2008
giữa
Bộ
công
an,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
Toà
án
nhân
dân
tối
cao
hướng
dẫn
việc
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
hành
vi
sản
xuất,
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ,
sử
dụng
trái
phép
pháo
nổ
và
thuốc
pháo
đã
quy
định
hành
vi
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ
trái
phép
pháo
có
số
lượng
từ
10kg
trở
lên
hoặc
dưới
số
lượng
đó,
nhưng
đã
bị
xử
phạt
hành
chính,
thì
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự.
Tuy
nhiên,
theo
quy
định
của
Luật
đầu
tư
năm
2014
(có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01/7/2015)
thì
“pháo
các
loại”
lại
thuộc
Danh
mục
“ngành
nghề
đầu
tư
kinh
doanh
có
điều
kiện”
(Phụ
lục
04
-
Luật
đầu
tư
năm
2014).
Từ
đó
dẫn
đến
một
bất
cập
là:
Luật
đầu
tư
năm
2014
và
Luật
thương
mại
năm
2005
chồng
chéo
nhau
về
đối
tượng
điều
chỉnh.
Để
xác
định
pháo
có
phải
hàng
hóa
thuộc
diện
“hàng
cấm”
thì
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
phải
căn
cứ
vào
các
Nghị
định
của
Chính
phủ,
Quyết
định
của
Bộ
chuyên
ngành
ban
hành.
Tuy
nhiên,
từ
khi
Luật
đầu
tư
có
hiệu
lực
thi
hành
đến
nay
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
cụ
thể
về
vấn
đề
này
nên
việc
xác
định
pháo
là
mặt
hàng
cấm
hay
là
mặt
hàng
kinh
doanh
có
điều
kiện
để
có
biện
pháp
xử
lý
đối
với
các
hành
vi
này
còn
gặp
khó
khăn
và
thiếu
sự
thống
nhất
trong
việc
vận
dụng.
*
Thú
hai:
Vướng
mắc
trong
việc
xác
định
căn
cứ
để
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự.
Theo
quy
định
tại
Điều
155
"Tội sản
xuất,
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
hàng
cấm" Bộ
luật
hình
sự
năm
1999
thì
"1.
Người
nào
sản
xuất,
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
hàng
hoá
mà
Nhà
nước
cấm
kinh
doanh
có
số
lượng
lớn,
thu
lợi
bất
chính
lớn
hoặc
đã
bị
xử
phạt
hành
chính
về
hành
vi
quy
định
tại
Điều
này
hoặc
tại
các
điều
153,
154,
156,
157,
158,
159
và
161
của
Bộ
luật
này
hoặc
đã
bị
kết
án
về
một
trong
các
tội
này,
chưa
được
xoá
án
tích
mà
còn
vi
phạm,
nếu
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
các
Điều
193,
194,
195,
196,
230,
232,
233,
236
và
238
của
Bộ
luật
này,
thì
bị
phạt
tiền
từ
năm
triệu
đồng
đến
năm
mươi
triệu
đồng
hoặc
phạt
tù
từ
sáu
tháng
đến
năm
năm...".
Để
xác
định
thế
nào
là
hàng
hóa
"có
số
lượng
lớn",
"số
lượng
rất
lớn",
"số
lượng
đặc
biệt
lớn"
thì
Thông
tư
liên
tịch
số
06/2008/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC
ngày
25/12/2008
của
Bộ
Công
an
-
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
-
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
đã
có
hướng
dẫn
việc
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
các
hành
vi
sản
xuất,
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ,
sử
dụng
trái
phép
pháo
nổ
và
thuốc
pháo.
Tại
điểm
2.3
tiểu
mục
2
mục
3
Thông
tư
này
có
quy
định: "Người
nào
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ
trái
phép
pháo
nổ
có
số
lượng
từ
10
kg
đến
dưới
50
kg
(được
coi
là
số
lượng
lớn)
hoặc
dưới
số
lượng
đó,
nhưng
đã
bị
xử
phạt
hành
chính,
hoặc
gây
hậu
quả
nghiêm
trọng
thì
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
theo
khoản
1
tương
ứng
của
Điều
153,
Điều
154
hoặc
Điều
155
BLHS...".
Theo
quy
định
của
Thông
tư
này,
bất
cứ
hành
vi
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ
trái
phép
pháo
nổ
có
số
lượng
hàng
phạm
pháp
từ
10kg
trở
lên
hoặc
dưới
10
kg
nhưng
đã
bị
xử
lý
hành
chính
hoặc
gây
hậu
quả
nghiêm
trọng
thì
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự.
Như
vậy,
việc
xác
định
người
có
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
phải
chịu
trách
nhiệm
hình
sự
hay
không
thì
căn
cứ
vào
số
lượng
hàng
phạm
pháp.
Tuy
nhiên
theo
quy
định
tại
Điều
190
và
Điều
191
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015,
thì
hàng
cấm
bị
thu
giữ
(ngoài
các
loại
hàng
cấm
là
hoá
chất,
kháng
sinh....) được
quy
định
tại
điểm
a
khoản
1
các
Điều
190
và
Điều
191)
phải
có
giá
trị
từ
100.000.000
đồng
trở
lên
(trường
hợp
hàng
cấm
bị
thu
giữ
trị
giá
dưới
100.000.000
đồng
thì
các
đối
tượng
phải
có
tiền
án,
tiền
sự
về
những
hành
vi
thuộc
nhóm
tội
phạm
này)
hoặc
từ
50.000.000
đồng
trở
lên
nếu
buôn
bán,
vận
chuyển
qua
biên
giới,
mới
có
thể
xử
lý
hình
sự.
Mặt
khác
theo
quy
định
tại
điểm
a
khoản
4
Điều
1
Nghị
quyết
144/2016/QH13
ngày
29/6/2016
của
Quốc
hội
khóa
XIII
về
việc
lùi
hiệu
lực
thi
hành
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13,
Bộ
luật
Tố
tụng
hình
sự
số
101/2015/QH13,…
Mà
theo
đó,
thực
hiện
các
quy
định
có
lợi
cho
người
phạm
tội
tại
khoản
3
Điều
7
Bộ
luật
Hình
sự
số
100/2015/QH13
và
điểm
b
khoản
1
Điều
1
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
về
việc
thi
hành
Bộ
luật
Hình
sự;
tiếp
tục
áp
dụng
khoản
2
Điều
1
và
các
quy
định
khác
có
lợi
cho
người
phạm
tội
tại
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13.
Do
đó
kể
từ
ngày
BLHS
năm
2015
được
công
bố,
đối
với
hành
vi
sản
xuất,
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
hàng
cấm
là
pháo
nổ
và
thuốc
lá
điếu
nhập
lậu
điều
luật
đã
quy
định
khác
có
lợi
cho
người
phạm
tội
nên
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
phải
xác
định
giá
trị
hàng
phạm
pháp
(pháo
nổ)
để
làm
căn
cứ
xử
lý.
Như
vậy,
Thông
tư
06
trên
và
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
không
thống
nhất
trong
cách
xác
định
căn
cứ
để
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
hành
vi
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ
hàng
cấm.
Mặt
khác
việc
quy
định
trị
giá
hàng
phạm
pháp
(hàng
cấm)
để
xử
lý
hình
sự
là
một
bất
cập,
vì:
Trên
thực
tế
đã
là
hàng
cấm,
không
được
phép
lưu
hành
trên
thị
trường
thì
sẽ
không
có
giá,
do
đó,
sẽ
không
có
căn
cứ
để
xác
định
được
giá.
Nếu
không
định
giá
được
mặt
hàng
này,
thì
không
thể
xử
lý
hình
sự
đối
với
các
hành
vi
sản
xuất,
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
hàng
cấm
theo
quy
định
tại
Điều
190
và
Điều
191
BLHS
năm
2015.
*
Thứ
ba:
Vướng
mắc
trong
thời
hạn
giải
quyết
các
vụ
án
buôn
bán
hàng
cấm.
Ngày
26/01/2016,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
đã
ban
hành Công
văn
số
06 hướng
dẫn
các
Tòa
án
địa
phương
xử
lý
các
tội
danh
trên theo
hướng:
khi
xác
định
có
hành
vi
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
và
thuốc
lá
ngoại
nhập
lậu
qua
biên
giới
thì
xử
lý
theo
Điều
153,
Điều
154
BLHS
năm
1999
nếu
đủ
các
yếu
tố
cấu
thành
tội
phạm
(vẫn
xác
định
là
hàng
cấm
với
số
lượng
lớn);
nhưng
nếu
chỉ thực
hiện
hành
vi tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
và
thuốc
lá
ngoại
nhập
lậu
trong
nội
địa
thì
không
xác
định
là
hàng
cấm
và
dừng
việc
xét
xử.
Ngày
19/01/2017
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
đã
ban
hành
Công
văn
số
06
về
việc
xử
lý
hình
sự
đối
với
hành
vi
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
nổ:
"Đối
với
hành
vi
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
nổ
được
thực
hiện
kể
từ
ngày
01/01/2017
đến
ngày
Luật
sửa
đổi,
bổ
sung
một
số
điều
của
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13
có
hiệu
lực
thi
hành,
thì
áp
dụng
quy
định
tại
Điều
155
Bộ
luật
hình
sự
năm
1999
và
hướng
dẫn
tại
Thông
tư
liên
tịch
số
06/2008/TTLT
-
BCA
-
VKSNDTC
-
TANDTC
ngày
25/12/2008
để
xử
lý".
Do
đó,
một
số
vụ
án
về
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
ở
địa
bàn
huyện
Sơn
Dương
phát
hiện
và
khởi
tố
trước
ngày
01/01/2017
đã
phải
tạm
đình
chỉ
điều
tra
để tiếp
tục chờ
văn
bản
giải
thích
của
Cơ
quan
có
thẩm
quyền,
nếu
hết
thời
hiệu
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
mà
vẫn
chưa
có
văn
bản
hướng
dẫn
của
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
thì
sẻ
giải
quyết
vụ
án
như
thế
nào?
Điều
này
ảnh
hưởng
không
nhỏ
tới
công
tác
tuyên
truyền
phổ
biến
pháp
luật
về
hành
vi
buôn
bán
pháo
nổ
và
công
tác
đấu
tranh
xử
lý
đối
với
các
hành
vi
tàng
trữ,
vận
chuyển,
buôn
bán
pháo
nổ.
*
Thứ
tư:
Vướng
mắc
trong
việc
xác
định
tính
chất
nguy
hiểm
cho
xã
hội
để
xác
định
mức
hình
phạt
đối
với
các
hành
vi
sản
xuất,
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ,
sử
dụng
trái
phép
pháo
nổ
và
thuốc
pháo.
Trong
thành
phần
pháo
nổ
gồm
có
thuốc
pháo
và
các
vật
liệu
khác
mà
thành
phần
thuốc
pháo
trong
pháo
nổ
chiếm
một
phần
nhỏ.
Tuy
nhiên
pháp
luật
hiện
hành
hiện
nay
chỉ
quy
định
trọng
lượng
của
pháo
nổ
để
làm
căn
cứ
khởi
tố,
truy
tố
và
xét
xử
đối
với
các
hành
vi
sản
xuất,
tàng
trữ
trái
phép
pháo
nổ
mà
chưa
có
quy
định
cụ
thể
về
khối
lượng
thuốc
pháo
(Ví
dụ:
A
có
hành
vi
tàng
trữ
15kg
pháo
nổ
nhưng
trọng
lượng
thuốc
pháo
chỉ
có
01kg,
còn
14kg
là
các
vật
liệu
khác
như
giấy....
và
B
có
hành
vi
tàng
trữ
15kg
pháo
nổ
nhưng
trọng
lượng
thuốc
pháo
là
05kg,
còn
các
vật
liệu
khác
là
10kg.
Khi
xét
xử
lại
chỉ
căn
cứ
vào
trọng
lượng
pháo
thu
giữ
là
15kg
là
chưa
hợp
lý
và
chưa
đảm
bảo
tính
công
bằng.
Vì
tính
chất
nguy
hiểm
cho
xã
hội
của
A
và
B
khác
nhau).
Để
xử
lý
các
hành
vi
mua
bán,
vận
chuyển,
tàng
trữ
pháo
nổ
được
triệt
để,
thống
nhất,
đề
nghị
liên
ngành
tư
pháp
Trung
ương
sớm
hướng
dẫn
xử
lý
những
vấn
đề
nêu
trên
để
việc
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
các
hành
vi
này
đảm
bảo
đúng
người,
đúng
tội,
đúng
quy
định
của
pháp
luật,
không
làm
oan
người
vô
tội
nhưng
cũng
không
bỏ
lọt
tội
phạm.
Phạm
Việt
Hùng