Trong
thực
tiễn
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất,
việc
xác
định
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
theo
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14
vẫn
có
trường
hợp
chưa
thống
nhất
giữa
Tòa
án
và
Viện
kiểm
sát.
Vướng
mắc
thường
phát
sinh
khi
Tòa
án
có
tiến
hành
định
giá
quyền
sử
dụng
đất
nhưng
kết
quả
định
giá
không
được
sử
dụng
để
phân
chia
quyền
hoặc
xác
định
nghĩa
vụ
thanh
toán
giữa
các
đương
sự.
Từ
tình
huống
cụ
thể
như
sau:
Ông
A
khởi
kiện
yêu
cầu
ông
B
trả
lại
toàn
bộ
thửa
đất
diện
tích
300m²
đang
do
ông
B
quản
lý,
sử
dụng.
Ông
B
không
đồng
ý,
cho
rằng
thửa
đất
do
mình
nhận
chuyển
nhượng
và
đã
sử
dụng
ổn
định
nên
đề
nghị
Tòa
án
công
nhận
quyền
sử
dụng
đất
cho
mình.
Trong
quá
trình
giải
quyết,
Tòa
án
tiến
hành
xem
xét,
thẩm
định
tại
chỗ
và
định
giá,
xác
định
giá
trị
quyền
sử
dụng
đất
là
800
triệu
đồng.
Sau
khi
đánh
giá
chứng
cứ,
Tòa
án
xác
định
ông
A
có
quyền
sử
dụng
toàn
bộ
thửa
đất,
chấp
nhận
yêu
cầu
khởi
kiện
và
buộc
ông
B
trả
lại
đất
cho
ông
A.
Đối
với
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
của
ông
B,
có
hai
quan
điểm:
-
Quan
điểm
thứ
nhất:
Tòa
án
đã
tiến
hành
định
giá
và
xác
định
giá
trị
quyền
sử
dụng
đất
là
800
triệu
đồng
nên
thuộc
trường
hợp
“phải
xác
định
giá
trị
tài
sản”
quy
định
tại
điểm
b
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14;
ông
B
phải
chịu
án
phí
có
giá
ngạch
theo
giá
trị
quyền
sử
dụng
đất.
Quan
điểm
này
đồng
nhất
hoạt
động
định
giá
của
Tòa
án
với
việc
xác
định
giá
trị
tài
sản
làm
căn
cứ
tính
án
phí.
Tuy
nhiên,
cách
hiểu
này
chưa
phản
ánh
đầy
đủ
điều
kiện
đặt
ra
tại
điểm
b
khoản
2
Điều
27,
bởi
việc
xác
định
giá
trị
tài
sản
phải
gắn
với
việc
giải
quyết
quyền,
lợi
ích
hoặc
nghĩa
vụ
tài
sản
cụ
thể
của
đương
sự
-
Quan
điểm
thứ
hai:
Đối
tượng
tranh
chấp
là
quyền
sử
dụng
toàn
bộ
thửa
đất.
Tòa
án
chỉ
xác
định
quyền
sử
dụng
đất
thuộc
về
ai
và
buộc
ông
B
trả
lại
đất;
kết
quả
định
giá
không
được
sử
dụng
để
xác
định
phần
quyền
hoặc
nghĩa
vụ
thanh
toán
của
các
bên.
Vì
vậy,
ông
B
chỉ
phải
chịu
án
phí
không
có
giá
ngạch
theo
điểm
a
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14.
Đây
là
điểm
vướng
mắc
hiện
nay
chủ
yếu
do
nhận
thức
và
cách
vận
dụng
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14
trong
từng
trường
hợp
cụ
thể.
Điểm
a
khoản
2
Điều
27
quy
định
trường
hợp
tranh
chấp
về
quyền
sử
dụng
đất
mà
Tòa
án
không
xem
xét
giá
trị,
chỉ
xem
xét
quyền
sử
dụng
đất
của
ai
thì
chịu
án
phí
không
có
giá
ngạch.
Trong
khi
đó,
điểm
b
quy
định
án
phí
có
giá
ngạch
đối
với
trường
hợp
Tòa
án
phải
xác
định
giá
trị
tài
sản
hoặc
xác
định
quyền
sử
dụng
đất
theo
phần.
Như
vậy,
tiêu
chí
cần
xem
xét
không
phải
là
Tòa
án
có
tiến
hành
định
giá
hay
không,
mà
là
giá
trị
tài
sản
được
xác
định
có
sử
dụng
để
giải
quyết
quyền,
nghĩa
vụ
của
đương
sự
hay
không.
Trong
tình
huống
nêu
trên,
việc
xác
định
thửa
đất
trị
giá
800
triệu
đồng
không
làm
phát
sinh
quyền
của
ông
A
đối
với
số
tiền
này,
cũng
không
làm
phát
sinh
nghĩa
vụ
của
ông
B
phải
thanh
toán
800
triệu
đồng.
Tòa
án
không
sử
dụng
kết
quả
định
giá
để
phân
chia
quyền
sử
dụng
đất
theo
phần
hoặc
xác
định
nghĩa
vụ
thanh
toán
mà
chỉ
xác
định
ông
A
có
quyền
sử
dụng
toàn
bộ
thửa
đất
và
buộc
ông
B
trả
lại
đất.
Vì
giá
trị
800
triệu
đồng
không
phải
căn
cứ
trực
tiếp
để
giải
quyết
quyền,
nghĩa
vụ
tài
sản
giữa
các
bên;
trường
hợp
này
thuộc
điểm
a
khoản
2
Điều
27.
Điểm
cần
lưu
ý
là
cụm
từ
“Tòa
án
phải
xác
định
giá
trị
tài
sản”
tại
điểm
b
không
nên
hiểu
theo
nghĩa:
chỉ
cần
Tòa
án
đã
định
giá
và
xác
định
được
giá
trị
tài
sản
thì
đương
nhiên
là
án
phí
có
giá
ngạch.
Quy
định
này
phải
được
đặt
trong
tổng
thể
khoản
2
Điều
27,
gồm
trường
hợp
“xác
định
quyền
sử
dụng
đất
theo
phần”.
Điều
đó
cho
thấy
án
phí
có
giá
ngạch
gắn
với
việc
giá
trị
tài
sản
mà
phần
quyền,
lợi
ích
đương
sự
được
hưởng
hoặc
nghĩa
vụ
tài
sản
đương
sự
phải
chịu.
Cách
hiểu
này
cũng
phù
hợp
với
nội
dung
giải
đáp
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
tại
Công
văn
số
443/VKSTC-V9
và
Công
văn
số
1476/VKSTC-V9.
Tuy
nhiên,
khi
trao
đổi
với
Tòa
án,
Kiểm
sát
viên
không
nên
chỉ
dừng
lại
ở
việc
viện
dẫn
các
công
văn
mang
tính
nội
bộ,
mà
cần
làm
rõ
căn
cứ
trực
tiếp
từ
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14
và
đối
chiếu
với
cách
Tòa
án
thực
tế
giải
quyết
vụ
án.
Khi
kiểm
sát
phần
án
phí
trong
các
vụ
án
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất,
Kiểm
sát
viên
cần
tập
trung
làm
rõ
các
vấn
đề
sau:
Thứ
nhất,
xác
định
chính
xác
phạm
vi
và
đối
tượng
tranh
chấp.
Cần
phân
biệt
trường
hợp
các
bên
tranh
chấp
toàn
bộ
thửa
đất
với
trường
hợp
tranh
chấp
một
phần
thửa
đất
hoặc
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất
theo
phần.
Đây
là
cơ
sở
đầu
tiên
để
xác
định
việc
Tòa
án
có
phải
lượng
hóa
quyền
của
mỗi
bên
hay
không.
Thứ
hai,
xác
định
mục
đích
và
vai
trò
của
việc
định
giá.
Không
phải
mọi
trường
hợp
có
định
giá
đều
dẫn
đến
án
phí
có
giá
ngạch.
Kiểm
sát
viên
cần
xem
xét
Tòa
án
định
giá
để
phục
vụ
hoạt
động
tố
tụng
hay
để
xác
định
phần
quyền,
phần
giá
trị
được
hưởng
hoặc
nghĩa
vụ
thanh
toán
của
đương
sự.
Thứ
ba,
đối
chiếu
kết
quả
định
giá
với
phần
nhận
định
và
quyết
định
của
bản
án.
Nếu
giá
trị
quyền
sử
dụng
đất
không
được
sử
dụng
để
xác
định
quyền,
nghĩa
vụ
tài
sản
giữa
các
bên
thì
không
nên
lấy
chính
giá
trị
đó
làm
căn
cứ
tính
án
phí
có
giá
ngạch.
Thứ
tư,
không
đồng
nhất
án
phí
với
chi
phí
tố
tụng.
Việc
Tòa
án
tiến
hành
xem
xét,
thẩm
định
tại
chỗ,
định
giá
và
buộc
đương
sự
chịu
chi
phí
định
giá
là
vấn
đề
khác
với
việc
xác
định
án
phí
có
giá
ngạch
hay
không.
Thứ
năm,
khi
phát
hiện
Tòa
án
xác
định
án
phí
chưa
phù
hợp,
quan
điểm
kiểm
sát
cần
lập
luận
từ
quy
định
pháp
luật
trước,
hướng
dẫn
nghiệp
vụ
sau.
Kiểm
sát
viên
cần
chỉ
rõ
vì
sao
tình
huống
cụ
thể
thuộc
điểm
a
hoặc
điểm
b
khoản
2
Điều
27
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14;
các
công
văn
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
được
sử
dụng
để
củng
cố
và
thống
nhất
cách
hiểu,
không
nên
được
xem
là
căn
cứ
duy
nhất
của
quan
điểm
kiểm
sát.
Từ
thực
tiễn
trên,
tác
giả
kiến
nghị:
Khi
kiểm
sát
án
phí
trong
vụ
án
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất,
không
nên
lấy
tiêu
chí
“có
định
giá”
làm
căn
cứ
quyết
định
mà
cần
xác
định
là
kết
quả
định
giá
có
thực
sự
được
sử
dụng
để
giải
quyết
quyền
và
nghĩa
vụ
tài
sản
giữa
các
bên
hay
không.
Chỉ
khi
kết
quả
định
giá
được
sử
dụng
để
xác
định
phần
quyền,
lợi
ích
hoặc
nghĩa
vụ
tài
sản
của
đương
sự
thì
mới
có
cơ
sở
xem
xét
án
phí
có
giá
ngạch
theo
điểm
b
khoản
2
Điều
27.
Việc
nhận
diện
đúng
bản
chất
này
sẽ
giúp
Kiểm
sát
viên
kiểm
sát
chặt
chẽ
hơn
phần
án
phí,
đồng
thời
nâng
cao
tính
thuyết
phục
của
quan
điểm
kiểm
sát
khi
có
sự
khác
nhau
trong
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
giữa
Viện
kiểm
sát
và
Tòa
án.
Tác
giả:
Nguyễn
Hải
Yến
–
Phòng
9