Trang nhất » Tin Tức » Xây dựng ngành

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 65

   BÀN VỀ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI TÒA ÁN CÓ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN


Thứ tư - 14/10/2026 08:28
 
Trong thực tiễn kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, việc xác định án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 vẫn có trường hợp chưa thống nhất giữa Tòa án và Viện kiểm sát. Vướng mắc thường phát sinh khi Tòa án có tiến hành định giá quyền sử dụng đất nhưng kết quả định giá không được sử dụng để phân chia quyền hoặc xác định nghĩa vụ thanh toán giữa các đương sự. Từ tình huống cụ thể như sau:

 
Ông A khởi kiện yêu cầu ông B trả lại toàn bộ thửa đất diện tích 300m² đang do ông B quản lý, sử dụng. Ông B không đồng ý, cho rằng thửa đất do mình nhận chuyển nhượng và đã sử dụng ổn định nên đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho mình.
 
Trong quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, xác định giá trị quyền sử dụng đất là 800 triệu đồng. Sau khi đánh giá chứng cứ, Tòa án xác định ông A có quyền sử dụng toàn bộ thửa đất, chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc ông B trả lại đất cho ông A.
 
Đối với án phí dân sự sơ thẩm của ông B, có hai quan điểm:
 
- Quan điểm thứ nhất: Tòa án đã tiến hành định giá và xác định giá trị quyền sử dụng đất là 800 triệu đồng nên thuộc trường hợp “phải xác định giá trị tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ông B phải chịu án phí có giá ngạch theo giá trị quyền sử dụng đất. Quan điểm này đồng nhất hoạt động định giá của Tòa án với việc xác định giá trị tài sản làm căn cứ tính án phí. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phản ánh đầy đủ điều kiện đặt ra tại điểm b khoản 2 Điều 27, bởi việc xác định giá trị tài sản phải gắn với việc giải quyết quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ tài sản cụ thể của đương sự
 
- Quan điểm thứ hai: Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng toàn bộ thửa đất. Tòa án chỉ xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai và buộc ông B trả lại đất; kết quả định giá không được sử dụng để xác định phần quyền hoặc nghĩa vụ thanh toán của các bên. Vì vậy, ông B chỉ phải chịu án phí không có giá ngạch theo điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
 
Đây là điểm vướng mắc hiện nay chủ yếu do nhận thức và cách vận dụng khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 trong từng trường hợp cụ thể.
 
Điểm a khoản 2 Điều 27 quy định trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sử dụng đất của ai thì chịu án phí không có giá ngạch. Trong khi đó, điểm b quy định án phí có giá ngạch đối với trường hợp Tòa án phải xác định giá trị tài sản hoặc xác định quyền sử dụng đất theo phần.
 
Như vậy, tiêu chí cần xem xét không phải là Tòa án có tiến hành định giá hay không, mà là giá trị tài sản được xác định có sử dụng để giải quyết quyền, nghĩa vụ của đương sự hay không.
 
Trong tình huống nêu trên, việc xác định thửa đất trị giá 800 triệu đồng không làm phát sinh quyền của ông A đối với số tiền này, cũng không làm phát sinh nghĩa vụ của ông B phải thanh toán 800 triệu đồng. Tòa án không sử dụng kết quả định giá để phân chia quyền sử dụng đất theo phần hoặc xác định nghĩa vụ thanh toán mà chỉ xác định ông A có quyền sử dụng toàn bộ thửa đất và buộc ông B trả lại đất. Vì giá trị 800 triệu đồng không phải căn cứ trực tiếp để giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản giữa các bên; trường hợp này thuộc điểm a khoản 2 Điều 27.
 
Điểm cần lưu ý là cụm từ “Tòa án phải xác định giá trị tài sản” tại điểm b không nên hiểu theo nghĩa: chỉ cần Tòa án đã định giá và xác định được giá trị tài sản thì đương nhiên là án phí có giá ngạch. Quy định này phải được đặt trong tổng thể khoản 2 Điều 27, gồm trường hợp “xác định quyền sử dụng đất theo phần”. Điều đó cho thấy án phí có giá ngạch gắn với việc giá trị tài sản mà phần quyền, lợi ích đương sự được hưởng hoặc nghĩa vụ tài sản đương sự phải chịu.
 
Cách hiểu này cũng phù hợp với nội dung giải đáp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 443/VKSTC-V9 và Công văn số 1476/VKSTC-V9. Tuy nhiên, khi trao đổi với Tòa án, Kiểm sát viên không nên chỉ dừng lại ở việc viện dẫn các công văn mang tính nội bộ, mà cần làm rõ căn cứ trực tiếp từ khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và đối chiếu với cách Tòa án thực tế giải quyết vụ án.
 
Khi kiểm sát phần án phí trong các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, Kiểm sát viên cần tập trung làm rõ các vấn đề sau:
 
Thứ nhất, xác định chính xác phạm vi và đối tượng tranh chấp. Cần phân biệt trường hợp các bên tranh chấp toàn bộ thửa đất với trường hợp tranh chấp một phần thửa đất hoặc tranh chấp quyền sử dụng đất theo phần. Đây là cơ sở đầu tiên để xác định việc Tòa án có phải lượng hóa quyền của mỗi bên hay không.
 
Thứ hai, xác định mục đích và vai trò của việc định giá. Không phải mọi trường hợp có định giá đều dẫn đến án phí có giá ngạch. Kiểm sát viên cần xem xét Tòa án định giá để phục vụ hoạt động tố tụng hay để xác định phần quyền, phần giá trị được hưởng hoặc nghĩa vụ thanh toán của đương sự.
 
Thứ ba, đối chiếu kết quả định giá với phần nhận định và quyết định của bản án. Nếu giá trị quyền sử dụng đất không được sử dụng để xác định quyền, nghĩa vụ tài sản giữa các bên thì không nên lấy chính giá trị đó làm căn cứ tính án phí có giá ngạch.
 
Thứ tư, không đồng nhất án phí với chi phí tố tụng. Việc Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và buộc đương sự chịu chi phí định giá là vấn đề khác với việc xác định án phí có giá ngạch hay không.
 
Thứ năm, khi phát hiện Tòa án xác định án phí chưa phù hợp, quan điểm kiểm sát cần lập luận từ quy định pháp luật trước, hướng dẫn nghiệp vụ sau. Kiểm sát viên cần chỉ rõ vì sao tình huống cụ thể thuộc điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; các công văn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao được sử dụng để củng cố và thống nhất cách hiểu, không nên được xem là căn cứ duy nhất của quan điểm kiểm sát.
 
Từ thực tiễn trên, tác giả kiến nghị: Khi kiểm sát án phí trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, không nên lấy tiêu chí “có định giá” làm căn cứ quyết định mà cần xác định là kết quả định giá có thực sự được sử dụng để giải quyết quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các bên hay không. Chỉ khi kết quả định giá được sử dụng để xác định phần quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ tài sản của đương sự thì mới có cơ sở xem xét án phí có giá ngạch theo điểm b khoản 2 Điều 27. Việc nhận diện đúng bản chất này sẽ giúp Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ hơn phần án phí, đồng thời nâng cao tính thuyết phục của quan điểm kiểm sát khi có sự khác nhau trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa Viện kiểm sát và Tòa án.
 
                                                            Tác giả: Nguyễn Hải Yến – Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top