Trang nhất » Tin Tức » Xây dựng ngành

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 148

   KIỂM SÁT VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA, CON TRONG ĐĂNG KÝ KHAI SINH KHI CHA, MẸ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TIỄN


Thứ năm - 15/10/2026 11:18
 
Đăng ký khai sinh là một trong những thủ tục hộ tịch có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập và ghi nhận các thông tin cơ bản về nhân thân của mỗi cá nhân, trong đó có thông tin về cha, mẹ. Việc xác định và ghi nhận chính xác quan hệ cha, con không chỉ bảo đảm quyền nhân thân của trẻ em mà còn là cơ sở để thực hiện các quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, có những trường hợp cha, mẹ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn; khi đăng ký khai sinh cho con, người cha được ghi nhận trong Giấy khai sinh. Tuy nhiên, việc xác định người cha trong những trường hợp này phải được thực hiện trên cơ sở trình tự, thủ tục và căn cứ pháp luật về hộ tịch, không chỉ dựa vào tình trạng chung sống hoặc lời khai của cha, mẹ.

  
Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc về hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang phát hiện một số trường hợp cha, mẹ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn; khi đăng ký khai sinh cho con, Giấy khai sinh ghi đầy đủ thông tin của cả cha và mẹ nhưng hồ sơ đăng ký khai sinh không có tài liệu thể hiện việc thực hiện thủ tục nhận cha, con theo quy định. Từ thực tiễn này, bài viết phân tích quy định pháp luật về xác định quan hệ cha, con trong trường hợp cha, mẹ không đăng ký kết hôn, nhận diện vi phạm và những vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa vi phạm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đồng thời bảo đảm tính chính xác của thông tin hộ tịch.
  
1. Quy định pháp luật về xác định quan hệ cha, con khi cha, mẹ không đăng ký kết hôn
 
Đăng ký khai sinh là sự kiện hộ tịch quan trọng, ghi nhận những thông tin cơ bản về nhân thân của mỗi cá nhân, trong đó có thông tin về cha, mẹ. Việc ghi nhận đầy đủ, chính xác thông tin về cha, mẹ có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền nhân thân của trẻ em và làm cơ sở thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ cha, con.
 
Việc cha, mẹ không đăng ký kết hôn không đồng nghĩa với việc người cha không được xác lập quan hệ cha, con với trẻ. Quan hệ cha, con là quan hệ nhân thân độc lập với quan hệ hôn nhân giữa cha và mẹ. Tuy nhiên, trường hợp người cha chưa được xác định về mặt hộ tịch thì việc ghi nhận người cha trong Giấy khai sinh phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
 
Theo khoản 1 Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con:
 
“Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con
 
1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt”.
 
Đối với trường hợp người cha yêu cầu nhận con ngay tại thời điểm đăng ký khai sinh, Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định về đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ, trong đó quy định:
 
“Điều 15. Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ
 
3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.” 

Như vậy, pháp luật cho phép kết hợp giải quyết việc nhận cha, con với đăng ký khai sinh trong cùng một lần, nhưng điều kiện là người cha phải có yêu cầu làm thủ tục nhận con và việc nhận con phải được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật hộ tịch.
 
Khoản 1 Điều 12 Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định:
 
“Điều 12. Kết hợp giải quyết việc đăng ký khai sinh và nhận cha, mẹ, con
 
Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
 
1. Hồ sơ gồm:
 
a) Tờ khai đăng ký khai sinh và Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;
 
b) Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch;
 
c) Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này”.
 
Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định:
 
"Điều 11. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con
 
Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
        
1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

 
2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.
 
Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.
 
Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật".
 
Đối với các trường hợp đăng ký khai sinh trước khi Luật Hộ tịch năm 2014 có hiệu lực, pháp luật tại thời điểm đó cũng đặt ra yêu cầu tương tự. Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định:
 
“Điều 15. Thủ tục đăng ký khai sinh
 
3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh’’.
 
Từ các quy định trên có thể thấy, khi kiểm sát các vụ án, vụ việc về hôn nhân và gia đình, nhất là việc xác định cha cho con. Khi kiểm sát việc đăng ký khai sinh đối với trường hợp cha, mẹ không đăng ký kết hôn cần phân biệt rõ hai vấn đề: tình trạng hôn nhân của cha, mẹ và căn cứ xác định quan hệ cha, con. Không đăng ký kết hôn không phải là căn cứ để từ chối ghi nhận người cha; nhưng cũng không thể chỉ căn cứ vào lời khai của cha, mẹ để ghi tên người cha mà không thực hiện thủ tục, không có căn cứ theo quy định. 

2. Thực tiễn phát hiện vi phạm và những vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát
 
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc về hôn nhân và gia đình, VKSND khu vực 6 - Tuyên Quang phát hiện một số trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng con sinh ra được ghi đầy đủ tên cha, mẹ trong Giấy khai sinh.
 
Quá trình kiểm sát, Viện kiểm sát đã phối hợp yêu cầu Toà án xác minh, thu thập hồ sơ đăng ký khai sinh hoặc yêu cầu UBND xã rà soát trả lời về việc có thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh kết hợp nhận cha, con không. Kết quả hầu hết các trường hợp xác minh tại UBND xã đều không có tài liệu thể hiện UBND cấp xã đã thực hiện thủ tục kết hợp nhận cha, con và đăng ký khai sinh. Đây là nội dung vi phạm về trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch, được xác định theo pháp luật tại từng thời điểm đăng ký khai sinh.
 
Từ thực tiễn trên cho thấy, vấn đề cần quan tâm trong công tác kiểm sát không phải là việc cha, mẹ có đăng ký kết hôn hay không, mà là căn cứ và trình tự xác định người cha trong Giấy khai sinh. Nếu người cha yêu cầu nhận con tại thời điểm đăng ký khai sinh thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải thực hiện việc kết hợp hai thủ tục theo quy định. Việc kiểm sát chỉ dựa trên Giấy khai sinh sẽ khó phát hiện được dạng vi phạm này. Vi phạm chỉ được nhận diện khi kiểm tra hồ sơ đăng ký khai sinh, đối chiếu giữa Tờ khai, tài liệu chứng minh, Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh.
 
Do đó, đối với trường hợp cha, mẹ không đăng ký kết hôn nhưng Giấy khai sinh có thông tin người cha, cần kiểm tra việc người cha có yêu cầu nhận con hay không; hồ sơ có thể hiện thủ tục nhận cha, con hay không; có tài liệu, chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định hay không và việc đăng ký có được thực hiện đúng trình tự hay không.
 
Việc ghi nhận thông tin người cha không đúng căn cứ không chỉ là sai sót về trình tự, thủ tục hộ tịch mà còn có thể ảnh hưởng đến việc xác định quan hệ nhân thân và thực hiện các quyền, nghĩa vụ giữa cha và con, như nghĩa vụ cấp dưỡng, đại diện, thừa kế và giải quyết các tranh chấp về cha, mẹ, con.
 
Đối với công tác kiểm sát, việc phát hiện các vi phạm này thông qua kiểm sát giải quyết các vụ án, vụ việc về hôn nhân và gia đình có ý nghĩa thiết thực. Hồ sơ vụ án, vụ việc thường thể hiện rõ tình trạng hôn nhân của cha, mẹ, thông tin về con chung và Giấy khai sinh; qua đó có thể phát hiện những trường hợp có dấu hiệu chưa bảo đảm trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch để xác minh, kiến nghị phòng ngừa.
 
3. Bài học kinh nghiệm
 
Từ thực tiễn như trên, rút ra một số bài học kinh nghiệm:
 
Khi kiểm sát các vụ án, vụ việc về hôn nhân và gia đình, nhất là việc xác định cha cho con. Trước hết, cần tăng cường kiểm sát hồ sơ đăng ký khai sinh có yếu tố xác định cha, con, nhất là trường hợp cha, mẹ không đăng ký kết hôn nhưng Giấy khai sinh có đầy đủ thông tin người cha. Kiểm sát phải gắn với hồ sơ, căn cứ và trình tự thực hiện, không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kết quả đăng ký.
 
Bên cạnh đó, cần xác định đúng pháp luật áp dụng tại thời điểm đăng ký khai sinh đối với những trường hợp được phát hiện trong quá trình kiểm sát các vụ, việc về hôn nhân và gia đình. Đây là yêu cầu quan trọng bởi hồ sơ hộ tịch có thể được lập từ nhiều thời điểm khác nhau, trong khi quy định pháp luật về hộ tịch đã có sự thay đổi.
 
Hồ sơ các vụ án, vụ việc về hôn nhân và gia đình là một nguồn thông tin thực tiễn để nhận diện những sai sót trong đăng ký khai sinh. Qua đó, Viện kiểm sát có thể kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền chấn chỉnh, phòng ngừa vi phạm, góp phần bảo đảm quyền nhân thân của trẻ em và tính chính xác, hợp pháp của thông tin hộ tịch.
 
Việc cha, mẹ không đăng ký kết hôn nhưng con được ghi đầy đủ thông tin cha, mẹ trong Giấy khai sinh không phải tự thân là vi phạm. Vấn đề cần kiểm sát là căn cứ xác định quan hệ cha, con và việc thực hiện thủ tục nhận cha, con theo quy định pháp luật.
 
Việc phát hiện những trường hợp Giấy khai sinh có tên cha, mẹ nhưng hồ sơ không thể hiện thủ tục nhận cha, con đã giúp nhận diện một dạng vi phạm trong hoạt động đăng ký hộ tịch vốn khó phát hiện nếu chỉ kiểm tra kết quả đăng ký. Từ đó, việc tăng cường kiểm sát hồ sơ, đối chiếu căn cứ và trình tự đăng ký, đồng thời chú trọng kiến nghị phòng ngừa đối với chính quyền cơ sở, là cần thiết nhằm bảo đảm hoạt động hộ tịch được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em./.
 
Tác giả: Đỗ Duy Anh – VKSND khu vực 6

Tổng số điểm của bài viết là: 107 trong 22 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top