Đăng
ký
khai
sinh
là
một
trong
những
thủ
tục
hộ
tịch
có
ý
nghĩa
quan
trọng
trong
việc
xác
lập
và
ghi
nhận
các
thông
tin
cơ
bản
về
nhân
thân
của
mỗi
cá
nhân,
trong
đó
có
thông
tin
về
cha,
mẹ.
Việc
xác
định
và
ghi
nhận
chính
xác
quan
hệ
cha,
con
không
chỉ
bảo
đảm
quyền
nhân
thân
của
trẻ
em
mà
còn
là
cơ
sở
để
thực
hiện
các
quyền,
nghĩa
vụ
giữa
cha,
mẹ
và
con
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Trong
thực
tế,
có
những
trường
hợp
cha,
mẹ
chung
sống
với
nhau
như
vợ
chồng
nhưng
không
đăng
ký
kết
hôn;
khi
đăng
ký
khai
sinh
cho
con,
người
cha
được
ghi
nhận
trong
Giấy
khai
sinh.
Tuy
nhiên,
việc
xác
định
người
cha
trong
những
trường
hợp
này
phải
được
thực
hiện
trên
cơ
sở
trình
tự,
thủ
tục
và
căn
cứ
pháp
luật
về
hộ
tịch,
không
chỉ
dựa
vào
tình
trạng
chung
sống
hoặc
lời
khai
của
cha,
mẹ.
Qua
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ,
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
khu
vực
6
-
Tuyên
Quang
phát
hiện
một
số
trường
hợp
cha,
mẹ
chung
sống
với
nhau
như
vợ
chồng
nhưng
không
đăng
ký
kết
hôn;
khi
đăng
ký
khai
sinh
cho
con,
Giấy
khai
sinh
ghi
đầy
đủ
thông
tin
của
cả
cha
và
mẹ
nhưng
hồ
sơ
đăng
ký
khai
sinh
không
có
tài
liệu
thể
hiện
việc
thực
hiện
thủ
tục
nhận
cha,
con
theo
quy
định.
Từ
thực
tiễn
này,
bài
viết
phân
tích
quy
định
pháp
luật
về
xác
định
quan
hệ
cha,
con
trong
trường
hợp
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn,
nhận
diện
vi
phạm
và
những
vấn
đề
đặt
ra
trong
công
tác
kiểm
sát,
qua
đó
đề
xuất
một
số
giải
pháp
nhằm
phòng
ngừa
vi
phạm,
bảo
đảm
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
trẻ
em,
đồng
thời
bảo
đảm
tính
chính
xác
của
thông
tin
hộ
tịch.
1.
Quy
định
pháp
luật
về
xác
định
quan
hệ
cha,
con
khi
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
Đăng
ký
khai
sinh
là
sự
kiện
hộ
tịch
quan
trọng,
ghi
nhận
những
thông
tin
cơ
bản
về
nhân
thân
của
mỗi
cá
nhân,
trong
đó
có
thông
tin
về
cha,
mẹ.
Việc
ghi
nhận
đầy
đủ,
chính
xác
thông
tin
về
cha,
mẹ
có
ý
nghĩa
trong
việc
bảo
đảm
quyền
nhân
thân
của
trẻ
em
và
làm
cơ
sở
thực
hiện
các
quyền,
nghĩa
vụ
phát
sinh
từ
quan
hệ
cha,
con.
Việc
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
không
đồng
nghĩa
với
việc
người
cha
không
được
xác
lập
quan
hệ
cha,
con
với
trẻ.
Quan
hệ
cha,
con
là
quan
hệ
nhân
thân
độc
lập
với
quan
hệ
hôn
nhân
giữa
cha
và
mẹ.
Tuy
nhiên,
trường
hợp
người
cha
chưa
được
xác
định
về
mặt
hộ
tịch
thì
việc
ghi
nhận
người
cha
trong
Giấy
khai
sinh
phải
được
thực
hiện
theo
trình
tự,
thủ
tục
pháp
luật
quy
định.
Theo
khoản
1
Điều
25
Luật
Hộ
tịch
năm
2014
quy
định
về
thủ
tục
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con:
“Điều
25.
Thủ
tục
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
1.
Người
yêu
cầu
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
nộp
tờ
khai
theo
mẫu
quy
định
và
chứng
cứ
chứng
minh
quan
hệ
cha
con
hoặc
mẹ
con
cho
cơ
quan
đăng
ký
hộ
tịch.
Khi
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
các
bên
phải
có
mặt”.
Đối
với
trường
hợp
người
cha
yêu
cầu
nhận
con
ngay
tại
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh,
Khoản
3
Điều
15
Nghị
định
số
123/2015/NĐ-CP
ngày
15/11/2015
của
Chính
phủ
quy
định
về
đăng
ký
khai
sinh
cho
trẻ
chưa
xác
định
được
cha,
mẹ,
trong
đó
quy
định:
“Điều
15.
Đăng
ký
khai
sinh
cho
trẻ
chưa
xác
định
được
cha,
mẹ
3.
Nếu
vào
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh
người
cha
yêu
cầu
làm
thủ
tục
nhận
con
theo
quy
định
tại Khoản
1
Điều
25
của
Luật
Hộ
tịch thì
Ủy
ban
nhân
dân
kết
hợp
giải
quyết
việc
nhận
con
và
đăng
ký
khai
sinh;
nội
dung
đăng
ký
khai
sinh
được
xác
định
theo
quy
định
tại Khoản
1
Điều
4
của
Nghị
định
này.”
Như
vậy,
pháp
luật
cho
phép
kết
hợp
giải
quyết
việc
nhận
cha,
con
với
đăng
ký
khai
sinh
trong
cùng
một
lần,
nhưng
điều
kiện
là
người
cha
phải
có
yêu
cầu
làm
thủ
tục
nhận
con
và
việc
nhận
con
phải
được
giải
quyết
theo
đúng
quy
định
của
pháp
luật
hộ
tịch.
Khoản
1
Điều
12
Thông
tư
15/2015/TT-BTP
ngày
16/11/2015
của
Bộ
Tư
pháp
quy
định:
“Điều
12.
Kết
hợp
giải
quyết
việc
đăng
ký
khai
sinh
và
nhận
cha,
mẹ,
con
Khi
đăng
ký
khai
sinh
cho
trẻ
em
mà
có
người
yêu
cầu
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
thì
cơ
quan
đăng
ký
hộ
tịch
kết
hợp
giải
quyết
thủ
tục
đăng
ký
khai
sinh
và
thủ
tục
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
như
sau:
1.
Hồ
sơ
gồm:
a)
Tờ
khai
đăng
ký
khai
sinh
và
Tờ
khai
đăng
ký
nhận
cha,
mẹ,
con
theo
mẫu
quy
định;
b)
Giấy
chứng
sinh
hoặc
giấy
tờ
thay
Giấy
chứng
sinh
theo
quy
định
tại khoản
1
Điều
16
của
Luật
hộ
tịch;
c)
Chứng
cứ
chứng
minh
quan
hệ
cha,
mẹ,
con
theo
quy
định
tại Điều
11
của
Thông
tư
này”.
Điều
11
Thông
tư
số
15/2015/TT-BTP
ngày
16/11/2015
của
Bộ
Tư
pháp
quy
định:
"Điều
11.
Chứng
cứ
chứng
minh
quan
hệ
cha,
mẹ,
con
Chứng
cứ
để
chứng
minh
quan
hệ
cha,
mẹ,
con
theo
quy
định
tại
khoản
Điều
25
và
khoản
1
Điều
44
của
Luật
hộ
tịch
gồm
một
trong
các
giấy
tờ,
tài
liệu
sau
đây:
1.
Văn
bản
của
cơ
quan
y
tế,
cơ
quan
giám
định
hoặc
cơ
quan
khác
có
thẩm
quyền
ở
trong
nước
hoặc
nước
ngoài
xác
nhận
quan
hệ
cha
con,
quan
hệ
mẹ
con.
2.
Trường
hợp
không
có
văn
bản
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này
thì
phải
có
thư
từ,
phim
ảnh,
băng,
đĩa,
đồ
dùng,
vật
dụng
khác
chứng
minh
mối
quan
hệ
cha
con,
quan
hệ
mẹ
con
và
văn
bản
cam
đoan
của
cha,
mẹ
về
việc
trẻ
em
là
con
chung
của
hai
người,
có
ít
nhất
hai
người
thân
thích
của
cha,
mẹ
làm
chứng.
Cơ
quan
đăng
ký
hộ
tịch
có
trách
nhiệm
giải
thích
rõ
trách
nhiệm,
hệ
quả
pháp
lý
của
việc
cam
đoan,
làm
chứng
không
đúng
sự
thật.
Cơ
quan
đăng
ký
hộ
tịch
từ
chối
giải
quyết
theo
quy
định
tại
Điều
5
của
Thông
tư
này
hoặc
hủy
bỏ
kết
quả
đăng
ký
hộ
tịch,
nếu
có
cơ
sở
xác
định
nội
dung
cam
đoan,
làm
chứng
không
đúng
sự
thật".
Đối
với
các
trường
hợp
đăng
ký
khai
sinh
trước
khi
Luật
Hộ
tịch
năm
2014
có
hiệu
lực,
pháp
luật
tại
thời
điểm
đó
cũng
đặt
ra
yêu
cầu
tương
tự.
Khoản
3
Điều
15
Nghị
định
số
158/2005/NĐ-CP
quy
định:
“Điều
15.
Thủ
tục
đăng
ký
khai
sinh
3.
Trong
trường
hợp
khai
sinh
cho
con
ngoài
giá
thú,
nếu
không
xác
định
được
người
cha,
thì
phần
ghi
về
người
cha
trong
Sổ
đăng
ký
khai
sinh
và
Giấy
khai
sinh
để
trống.
Nếu
vào
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh
có
người
nhận
con,
thì
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
kết
hợp
giải
quyết
việc
nhận
con
và
đăng
ký
khai
sinh’’.
Từ
các
quy
định
trên
có
thể
thấy,
khi
kiểm
sát
các
vụ
án,
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình,
nhất
là
việc
xác
định
cha
cho
con.
Khi
kiểm
sát
việc
đăng
ký
khai
sinh
đối
với
trường
hợp
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
cần
phân
biệt
rõ
hai
vấn
đề:
tình
trạng
hôn
nhân
của
cha,
mẹ
và
căn
cứ
xác
định
quan
hệ
cha,
con.
Không
đăng
ký
kết
hôn
không
phải
là
căn
cứ
để
từ
chối
ghi
nhận
người
cha;
nhưng
cũng
không
thể
chỉ
căn
cứ
vào
lời
khai
của
cha,
mẹ
để
ghi
tên
người
cha
mà
không
thực
hiện
thủ
tục,
không
có
căn
cứ
theo
quy
định.
2.
Thực
tiễn
phát
hiện
vi
phạm
và
những
vấn
đề
đặt
ra
trong
công
tác
kiểm
sát
Qua
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ
án,
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình,
VKSND
khu
vực
6
-
Tuyên
Quang
phát
hiện
một
số
trường
hợp
nam,
nữ
chung
sống
với
nhau
như
vợ
chồng,
không
đăng
ký
kết
hôn
nhưng
con
sinh
ra
được
ghi
đầy
đủ
tên
cha,
mẹ
trong
Giấy
khai
sinh.
Quá
trình
kiểm
sát,
Viện
kiểm
sát
đã
phối
hợp
yêu
cầu
Toà
án
xác
minh,
thu
thập
hồ
sơ
đăng
ký
khai
sinh
hoặc
yêu
cầu
UBND
xã
rà
soát
trả
lời
về
việc
có
thực
hiện
thủ
tục
đăng
ký
khai
sinh
kết
hợp
nhận
cha,
con
không.
Kết
quả
hầu
hết
các
trường
hợp
xác
minh
tại
UBND
xã
đều
không
có
tài
liệu
thể
hiện
UBND
cấp
xã
đã
thực
hiện
thủ
tục
kết
hợp
nhận
cha,
con
và
đăng
ký
khai
sinh.
Đây
là
nội
dung
vi
phạm
về
trình
tự,
thủ
tục
đăng
ký
hộ
tịch,
được
xác
định
theo
pháp
luật
tại
từng
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh.
Từ
thực
tiễn
trên
cho
thấy,
vấn
đề
cần
quan
tâm
trong
công
tác
kiểm
sát
không
phải
là
việc
cha,
mẹ
có
đăng
ký
kết
hôn
hay
không,
mà
là
căn
cứ
và
trình
tự
xác
định
người
cha
trong
Giấy
khai
sinh.
Nếu
người
cha
yêu
cầu
nhận
con
tại
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh
thì
cơ
quan
đăng
ký
hộ
tịch
phải
thực
hiện
việc
kết
hợp
hai
thủ
tục
theo
quy
định.
Việc
kiểm
sát
chỉ
dựa
trên
Giấy
khai
sinh
sẽ
khó
phát
hiện
được
dạng
vi
phạm
này.
Vi
phạm
chỉ
được
nhận
diện
khi
kiểm
tra
hồ
sơ
đăng
ký
khai
sinh,
đối
chiếu
giữa
Tờ
khai,
tài
liệu
chứng
minh,
Sổ
hộ
tịch
và
Giấy
khai
sinh.
Do
đó,
đối
với
trường
hợp
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
nhưng
Giấy
khai
sinh
có
thông
tin
người
cha,
cần
kiểm
tra
việc
người
cha
có
yêu
cầu
nhận
con
hay
không;
hồ
sơ
có
thể
hiện
thủ
tục
nhận
cha,
con
hay
không;
có
tài
liệu,
chứng
cứ
chứng
minh
quan
hệ
cha,
con
theo
quy
định
hay
không
và
việc
đăng
ký
có
được
thực
hiện
đúng
trình
tự
hay
không.
Việc
ghi
nhận
thông
tin
người
cha
không
đúng
căn
cứ
không
chỉ
là
sai
sót
về
trình
tự,
thủ
tục
hộ
tịch
mà
còn
có
thể
ảnh
hưởng
đến
việc
xác
định
quan
hệ
nhân
thân
và
thực
hiện
các
quyền,
nghĩa
vụ
giữa
cha
và
con,
như
nghĩa
vụ
cấp
dưỡng,
đại
diện,
thừa
kế
và
giải
quyết
các
tranh
chấp
về
cha,
mẹ,
con.
Đối
với
công
tác
kiểm
sát,
việc
phát
hiện
các
vi
phạm
này
thông
qua
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án,
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình
có
ý
nghĩa
thiết
thực.
Hồ
sơ
vụ
án,
vụ
việc
thường
thể
hiện
rõ
tình
trạng
hôn
nhân
của
cha,
mẹ,
thông
tin
về
con
chung
và
Giấy
khai
sinh;
qua
đó
có
thể
phát
hiện
những
trường
hợp
có
dấu
hiệu
chưa
bảo
đảm
trình
tự,
thủ
tục
đăng
ký
hộ
tịch
để
xác
minh,
kiến
nghị
phòng
ngừa.
3.
Bài
học
kinh
nghiệm
Từ
thực
tiễn
như
trên,
rút
ra
một
số
bài
học
kinh
nghiệm:
Khi
kiểm
sát
các
vụ
án,
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình,
nhất
là
việc
xác
định
cha
cho
con.
Trước
hết,
cần
tăng
cường
kiểm
sát
hồ
sơ
đăng
ký
khai
sinh
có
yếu
tố
xác
định
cha,
con,
nhất
là
trường
hợp
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
nhưng
Giấy
khai
sinh
có
đầy
đủ
thông
tin
người
cha.
Kiểm
sát
phải
gắn
với
hồ
sơ,
căn
cứ
và
trình
tự
thực
hiện,
không
chỉ
dừng
lại
ở
việc
kiểm
tra
kết
quả
đăng
ký.
Bên
cạnh
đó,
cần
xác
định
đúng
pháp
luật
áp
dụng
tại
thời
điểm
đăng
ký
khai
sinh
đối
với
những
trường
hợp
được
phát
hiện
trong
quá
trình
kiểm
sát
các
vụ,
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình.
Đây
là
yêu
cầu
quan
trọng
bởi
hồ
sơ
hộ
tịch
có
thể
được
lập
từ
nhiều
thời
điểm
khác
nhau,
trong
khi
quy
định
pháp
luật
về
hộ
tịch
đã
có
sự
thay
đổi.
Hồ
sơ
các
vụ
án,
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình
là
một
nguồn
thông
tin
thực
tiễn
để
nhận
diện
những
sai
sót
trong
đăng
ký
khai
sinh.
Qua
đó,
Viện
kiểm
sát
có
thể
kịp
thời
kiến
nghị
cơ
quan
có
thẩm
quyền
chấn
chỉnh,
phòng
ngừa
vi
phạm,
góp
phần
bảo
đảm
quyền
nhân
thân
của
trẻ
em
và
tính
chính
xác,
hợp
pháp
của
thông
tin
hộ
tịch.
Việc
cha,
mẹ
không
đăng
ký
kết
hôn
nhưng
con
được
ghi
đầy
đủ
thông
tin
cha,
mẹ
trong
Giấy
khai
sinh
không
phải
tự
thân
là
vi
phạm.
Vấn
đề
cần
kiểm
sát
là
căn
cứ
xác
định
quan
hệ
cha,
con
và
việc
thực
hiện
thủ
tục
nhận
cha,
con
theo
quy
định
pháp
luật.
Việc
phát
hiện
những
trường
hợp
Giấy
khai
sinh
có
tên
cha,
mẹ
nhưng
hồ
sơ
không
thể
hiện
thủ
tục
nhận
cha,
con
đã
giúp
nhận
diện
một
dạng
vi
phạm
trong
hoạt
động
đăng
ký
hộ
tịch
vốn
khó
phát
hiện
nếu
chỉ
kiểm
tra
kết
quả
đăng
ký.
Từ
đó,
việc
tăng
cường
kiểm
sát
hồ
sơ,
đối
chiếu
căn
cứ
và
trình
tự
đăng
ký,
đồng
thời
chú
trọng
kiến
nghị
phòng
ngừa
đối
với
chính
quyền
cơ
sở,
là
cần
thiết
nhằm
bảo
đảm
hoạt
động
hộ
tịch
được
thực
hiện
đúng
pháp
luật,
bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
trẻ
em./.
Tác
giả:
Đỗ
Duy
Anh
–
VKSND
khu
vực
6