(Tổ
Tuyên
truyền)
-
Để
bảo
vệ
quan
điểm
truy
tố
một
cách
thuyết
phục
trước
những
lập
luận
từ
người
bào
chữa,
Kiểm
sát
viên
không
chỉ
cần
nắm
vững
hồ
sơ
mà
còn
phải
có
kỹ
năng
xét
hỏi,
đối
đáp
linh
hoạt.
Thực
tế
cho
thấy,
vẫn
còn
tình
trạng
Kiểm
sát
viên
lúng
túng
khi
đối
mặt
với
chứng
cứ
mới
hoặc
quá
phụ
thuộc
vào
bản
luận
tội
đã
chuẩn
bị
sẵn.
Từ
kinh
nghiệm
thực
tiễn
công
tác
kiểm
sát
xét
xử,
tác
giả
bài
viết
đưa
ra
5
nhóm
giải
pháp
trọng
tâm
từ
khâu
chuẩn
bị
đề
cương
đến
kỹ
năng
hùng
biện
và
phối
hợp
tổ
chức
phiên
tòa
rút
kinh
nghiệm
nhằm
giúp
các
đồng
nghiệp
nâng
cao
chất
lượng
thực
hành
quyền
công
tố
và
kiểm
sát
xét
xử.
Tranh
tụng
trong
tố
tụng
hình
sự
là
một
quá
trình
tố
tụng
nhằm
xác
định
sự
thật
khách
quan
của
vụ
án,
trong
đó
các
chủ
thể
tham
gia
tố
tụng
có
quyền
đưa
ra
những
tài
liệu,
chứng
cứ
để
chứng
minh,
bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
mình
trước
HĐXX
theo
các
trình
tự,
thủ
tục
do
BLTTHS
quy
định.
BLTTHS
năm
2015
đã
quy
định
“Tranh
tụng”
thành
một
nguyên
tắc
quy
định
tại
Điều
26
và
cụ
thể
nguyên
tắc
này
tại
Mục
V
Chương
XXI
“Thủ
tục
tranh
tụng
tại
phiên
tòa”
được
quy
định
từ
Điều
306
đến
Điều
325,
đây
có
thể
xem
là
giai
đoạn
trung
tâm
của
quá
trình
tố
tụng
hình
sự.

Việc
nâng
cao
chất
lượng
tranh
tụng
của
Kiểm
sát
viên
trong
những
năm
qua
luôn
được
lãnh
đạo
Viện
KSND
tỉnh
Tuyên
Quang
quan
tâm.
Việc
trang
bị
các
điều
kiện
vật
chất,
phương
tiện
kỹ
thuật
phục
vụ
cho
Kiểm
sát
viên
tranh
tụng
tại
phiên
tòa
luôn
được
bảo
đảm
như
các
Kiểm
sát
viên
cơ
bản
được
sử
dụng
máy
tính
xách
tay,
các
phần
mềm
hỗ
trợ
tranh
tụng,
số
hóa
hồ
sơ,
trình
chiếu
tài
liệu
bằng
hình
ảnh
tại
phiên
tòa...qua
đó
giúp
cho
Kiểm
sát
viên
nâng
cao
chất
lượng
tranh
tụng
tại
phiên
tòa.
Tuy
nhiên,
việc
tranh
tụng
tại
một
số
phiên
tòa
vẫn
còn
có
những
hạn
chế
nhất
định
như:
-
Chất
lượng
chuẩn
bị
tranh
tụng
trước
phiên
tòa
của
một
số
Kiểm
sát
viên
còn
hạn
chế.
Trong
một
số
vụ
án,
việc
nghiên
cứu
hồ
sơ
và
chuẩn
bị
nội
dung
tranh
tụng
của
Kiểm
sát
viên
chưa
thật
sự
sâu
sắc,
toàn
diện.
Việc
xây
dựng
đề
cương
xét
hỏi,
dự
kiến
tình
huống
tranh
tụng
đôi
khi
còn
mang
tính
hình
thức,
chưa
phân
tích
đầy
đủ
các
chứng
cứ
buộc
tội,
gỡ
tội
và
các
mâu
thuẫn
trong
hồ
sơ
vụ
án.
Một
số
bản
luận
tội
chủ
yếu
tập
trung
tóm
tắt
diễn
biến
vụ
án,
chưa
phân
tích
sâu
căn
cứ
pháp
lý
và
chứng
cứ
chứng
minh
hành
vi
phạm
tội
của
bị
cáo,
chưa
làm
rõ
mối
quan
hệ
giữa
các
chứng
cứ
trong
hồ
sơ
vụ
án.
-
Kỹ
năng
xét
hỏi
và
đối
đáp
của
một
số
Kiểm
sát
viên
tại
phiên
tòa
còn
hạn
chế.
Trong
quá
trình
tham
gia
xét
xử,
một
số
Kiểm
sát
viên
chưa
thể
hiện
rõ
vai
trò
chủ
động
trong
việc
xét
hỏi
để
làm
sáng
tỏ
nội
dung
vụ
án.
Các
câu
hỏi
đôi
khi
còn
dàn
trải,
chưa
tập
trung
vào
các
vấn
đề
trọng
tâm
cần
làm
rõ.
Việc
đối
đáp
với
ý
kiến
bào
chữa
của
luật
sư
hoặc
ý
kiến
của
bị
cáo
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác
trong
một
số
trường
hợp
còn
chưa
thật
sự
thuyết
phục;
lập
luận
đôi
khi
chưa
chặt
chẽ,
chưa
viện
dẫn
đầy
đủ
chứng
cứ
và
căn
cứ
pháp
luật
để
bảo
vệ
quan
điểm
truy
tố
của
Viện
kiểm
sát.
Trong
các
vụ
án
có
luật
sư
tham
gia
bào
chữa
tích
cực,
một
số
Kiểm
sát
viên
còn
lúng
túng
trong
việc
xử
lý
các
tình
huống
tranh
luận
phát
sinh
tại
phiên
tòa.
-
Việc
thực
hiện
nguyên
tắc
tranh
tụng
trong
xét
xử
ở
một
số
phiên
tòa
chưa
thật
sự
phát
huy
hiệu
quả.
Ở
một
số
phiên
tòa,
hoạt
động
tranh
tụng
giữa
Kiểm
sát
viên
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác
chưa
diễn
ra
thật
sự
sôi
nổi,
sâu
sắc,
việc
tranh
luận
đôi
khi
còn
mang
tính
hình
thức.
Trong
một
số
trường
hợp,
Kiểm
sát
viên
chưa
chủ
động
phản
biện
đầy
đủ
các
quan
điểm
bào
chữa
của
luật
sư,
dẫn
đến
việc
làm
rõ
các
tình
tiết
của
vụ
án
tại
phiên
tòa
chưa
đạt
hiệu
quả
cao.
-
Công
tác
rút
kinh
nghiệm
và
đào
tạo
kỹ
năng
tranh
tụng
còn
hạn
chế.
Việc
tổ
chức
các
phiên
tòa
rút
kinh
nghiệm,
sinh
hoạt
chuyên
đề
về
kỹ
năng
tranh
tụng
ở
một
số
đơn
vị
còn
chưa
thường
xuyên.
Công
tác
tổng
hợp,
phổ
biến
các
bài
học
kinh
nghiệm
sau
phiên
tòa
chưa
được
thực
hiện
đầy
đủ,
dẫn
đến
việc
nâng
cao
kỹ
năng
tranh
tụng
cho
đội
ngũ
Kiểm
sát
viên
còn
chậm.
Bên
cạnh
đó,
cơ
hội
để
Kiểm
sát
viên
tham
gia
các
lớp
đào
tạo,
bồi
dưỡng
chuyên
sâu
về
kỹ
năng
tranh
tụng
còn
hạn
chế.
-
Về
nguyên
nhân
chủ
quan:
Kỹ
năng
tranh
tụng
chưa
sắc
bén
do
một
số
Kiểm
sát
viên
còn
nặng
về
đọc
bản
luận
tội
đã
chuẩn
bị
sẵn,
chưa
linh
hoạt
trong
việc
đối
đáp,
phản
bác
các
lập
luận
mới
phát
sinh
từ
phía
luật
sư
hoặc
bị
cáo
tại
phiên
tòa.
Một
số
Kiểm
sát
viên
còn
có
tâm
lý
chủ
quan
do
quá
tin
tưởng
vào
hồ
sơ
điều
tra
nên
khi
ra
tòa
không
dự
kiến
hết
các
tình
huống
thay
đổi
lời
khai
hoặc
các
chứng
cứ
ngoại
phạm
mới,
dẫn
đến
lúng
túng
khi
tranh
tụng
tại
phiên
tòa.
Trình
độ
chuyên
môn
của
các
Kiểm
sát
viên
không
đồng
đều,
khả
năng
nghiên
cứu
hồ
sơ,
tổng
hợp
chứng
cứ
và
tư
duy
pháp
lý
của
một
số
Kiểm
sát
viên
còn
hạn
chế,
chưa
đáp
ứng
được
yêu
cầu
của
cải
cách
tư
pháp.
-
Về
nguyên
nhân
khách
quan
Cơ
sở
vật
chất
và
trang
thiết
bị, việc
số
hóa
hồ
sơ
và
ứng
dụng
công
nghệ
thông
tin
tại
tòa
án
còn
chưa
đồng
bộ,
gây
khó
khăn
cho
việc
trình
chiếu
chứng
cứ
điện
tử
để
thuyết
phục
Hội
đồng
xét
xử
và
những
người
tham
gia
tố
tụng.
Nguyên
nhân
khác
do
Kiểm
sát
viên
phải
thụ
lý
cùng
lúc
quá
nhiều
vụ
án,
dẫn
đến
việc
thiếu
thời
gian
để
nghiên
cứu
sâu
từng
chi
tiết
nhỏ
hoặc
chuẩn
bị
kỹ
các
phương
án
tranh
luận,
đề
cương
xét
hỏi,
dự
kiến
các
nội
dung
phát
sinh
tại
phiên
tòa.
Trước
thực
trạng
trên,
để
nâng
cao
chất
lượng
tranh
tụng
tại
phiên
tòa
xét
xử
sơ
thẩm
hình
sự,
nhất
là
các
vụ
án
lớn,
phức
tạp,
đông
bị
can,
tác
giả
đề
xuất
một
số
giải
pháp
như
sau:
-
Một
là,
chuẩn
bị
đề
cương
xét
hỏi,
đề
cương
kiểm
sát
xét
xử,
dự
kiến
những
tình
huống
phát
sinh
tại
phiên
tòa.
Kiểm
sát
viên
phải
nghiên
cứu
kỹ
hồ
sơ
vụ
án,
nắm
chắc
nội
dung
của
vụ
án,
các
chứng
cứ
buộc
tội,
gỡ
tội.
Khi
nghiên
cứu
hồ
sơ
vụ
án,
KSV
phải
nghiên
cứu
đầy
đủ
các
lời
khai,
bản
cung
của
bị
can,
của
những
NTGTT
khác,
biên
bản
đối
chất,
nhận
dạng
và
các
tài
liệu,
chứng
cứ
có
liên
quan
đến
vụ
án.
Từ
đó
hệ
thống
các
chứng
cứ
buộc
tội,
gồm
có
lời
khai
nhận
tội
của
bị
can,
lời
khai
người
làm
chứng
về
các
tình
tiết
liên
quan
đến
hành
vi
của
bị
can,
biên
bản
phạm
pháp
quả
tang,
vật
chứng,
giám
định
chuyên
môn…
Đây
là
các
căn
cứ
để
KSV
tiến
hành
tranh
luận,
đối
đáp
với
bị
cáo,
người
bào
chữa
và
những
NTGTT
khác
tại
phiên
tòa;
hệ
thống
các
chứng
cứ
gỡ
tội,
gồm
lời
khai
bị
can,
người
làm
chứng
và
các
tài
liệu
khác
khẳng
định
bị
can
không
phạm
tội
hoặc
phạm
tội
nhẹ
hơn.
Thực
tiễn
hiện
nay,
người
bào
chữa,
thậm
chí
cả
HĐXX
khi
đánh
giá
chứng
cứ,
tài
liệu
đã
thu
thập,
kiểm
tra
tại
phiên
tòa
có
mâu
thuẫn,
như
lời
khai
của
bị
can
không
phù
hợp
với
hiện
trường,
không
phù
hợp
với
diễn
biến
vụ
án
thì
kết
luận
theo
nguyên
tắc
suy
đoán
vô
tội.
Do
vậy,
KSV
phải
phân
tích,
đánh
giá
tổng
hợp
chứng
cứ,
giải
quyết
các
mâu
thuẫn
một
cách
khách
quan,
khoa
học
để
chứng
minh
sự
thật
vụ
án,
tranh
tụng
với
người
bào
chữa,
bị
cáo
và
thuyết
phục
HĐXX
bảo
vệ
chân
lý.
Xây
dựng
đề
cương
kiểm
sát
việc
tuân
theo
pháp
luật
của
HĐXX
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
khác
tại
phiên
tòa
một
cách
có
trình
tự,
logic
theo
đúng
quy
định
BLTTHS.
Khi
thực
hiện
nhiệm
vụ,
KSV
cần
đánh
dấu
những
hoạt
động
nào
HĐXX
và
những
người
tham
gia
tố
tụng
tại
phiên
tòa
chấp
hành
đúng
pháp
luật,
những
hoạt
động
nào
vi
phạm
hoặc
còn
thiếu
sót
để
kịp
thời
đề
nghị
HĐXX
khắc
phục,
bổ
sung.
Nhiệm
vụ
kiểm
sát
hoạt
động
xét
xử
tại
phiên
tòa
đã
được
quy
định
cụ
thể
trong
BLTTHS
và
khi
xét
xử
các
vụ
án
hình
sự
đều
phải
tuân
theo,
nếu
KSV
làm
tốt
công
tác
chuẩn
bị
đề
cương
thực
hiện
nhiệm
vụ
này,
sẽ
giúp
Kiểm
sát
viên
tập
trung
thực
hiện
tốt
công
tác
THQCT.
Kiểm
sát
viên
phải
dự
kiến
trước
những
vấn
đề
mà
bị
cáo,
người
bào
chữa
và
những
NTGTT
khác
đưa
ra
trong
phiên
toà.
Thường
đó
là
những
vấn
đề
về
đánh
giá
chứng
cứ,
đánh
giá
tính
chất,
mức
độ
nguy
hiểm
của
tội
phạm,
thiệt
hại
do
tội
phạm
gây
ra,
các
tình
tiết
tăng
nặng,
giảm
nhẹ
TNHS,
nhân
thân
bị
cáo,
những
điểm
mâu
thuẫn
trong
hồ
sơ
vụ
án,
vai
trò
của
bị
cáo
trong
đồng
phạm…
chuẩn
bị
lý
lẽ
để
bác
bỏ
những
quan
điểm
sai
trái,
không
đúng
của
bị
cáo,
người
bào
chữa
trên
cơ
sở
viện
dẫn
chứng
cứ
để
chứng
minh,
bảo
vệ
quan
điểm
truy
tố
của
Viện
kiểm
sát,
đường
lối,
chính
sách
pháp
luật.
-
Hai
là,
Kiểm
sát
viên
phải
thường
xuyên
nghiên
cứu,
nắm
vững
các
quy
định
của
BLHS,
BLTTHS
năm
2015,
các
văn
bản
pháp
luật
hướng
dẫn
thi
hành,
đặc
biệt
các
yếu
tố
cấu
thành
tội
phạm,
các
khái
niệm
về
tình
tiết
định
khung,
tình
tiết
tăng
nặng,
giảm
nhẹ
TNHS…
Chuẩn
bị
các
văn
bản
pháp
luật
có
liên
quan,
nên
lưu
trữ
thành
hệ
thống
trong
máy
vi
tính,
để
chủ
động
tranh
tụng
tại
phiên
tòa.
Qua
theo
dõi
một
số
phiên
tòa,
người
bào
chữa
thường
cắt
xén
hoặc
thêm
bớt
nội
dung
văn
bản
quy
phạm
pháp
luật
theo
hướng
có
lợi
cho
bài
bào
chữa,
nên
KSV
phải
sử
dụng
chính
xác
nội
dung,
tinh
thần
của
văn
bản
đó
để
bác
bỏ
quan
điểm
của
người
bào
chữa.
Ba
là:
tại
phiên
tòa,
Kiểm
sát
viên
phải
tập
trung
chú
ý
theo
dõi,
lắng
nghe
và
ghi
chép
đầy
đủ
ý
kiến
cơ
bản,
ý
chính
của
bị
cáo,
người
bào
chữa
và
những
người
tham
gia
tố
tụng,
hệ
thống
các
nội
dung
chính
cần
đối
đáp
lại;
từ
đó
phải
kịp
thời
bổ
sung
những
căn
cứ
pháp
lý,
những
tài
liệu,
chứng
cứ
cần
phân
tích,
đánh
giá,
sử
dụng
để
tranh
luận,
đối
đáp
không
trùng
lắp,
đầy
đủ,
ngắn
gọn
và
chặt
chẽ
mang
tính
thuyết
phục
để
bảo
vệ
quan
điểm
của
VKS.
Theo
quy
định
tại
Điều
322
BLTTHS
năm
2015,
thì
người
bào
chữa
và
người
tham
gia
tố
tụng
có
quyền
đưa
ra
chứng
cứ,
tài
liệu
của
mình
để
đối
đáp
với
KSV.
Trường
hợp
chứng
cứ,
tài
liệu
này
người
bào
chữa
đưa
ra
trong
quá
trình
truy
tố,
chuẩn
bị
xét
xử,
thì
KSV
phải
được
nhận,
sẽ
có
thời
gian
xem
xét,
đánh
giá,
nhận
định
và
có
quan
điểm
của
mình;
nhưng
nếu
tại
phiên
tòa
người
bào
chữa
và
người
tham
gia
tố
tụng
đưa
ra
chứng
cứ,
tài
liệu
mới
phát
sinh,
thì
Kiểm
sát
viên
phải
kiểm
tra
nguồn
gốc,
tính
hợp
pháp
của
tài
liệu
đó
để
có
lập
luận,
đối
đáp.
Kiểm
sát
viên
phải
đưa
ra
chứng
cứ,
tài
liệu
và
lập
luận
để
đối
đáp
đến
cùng
từng
ý
kiến
của
bị
cáo,
người
bào
chữa,
người
tham
gia
tố
tụng
khác
tại
phiên
tòa.
Trường
hợp
tài
liệu,
chứng
cứ
mới
phát
sinh
làm
thay
đổi
sự
thật
vụ
án
và
không
thể
kiểm
tra
để
đánh
giá
về
tính
khách
quan,
việc
thu
thập
có
tuân
thủ
đúng
trình
tự,
thủ
tục
theo
quy
định
của
pháp
luật,
thì
KSV
đề
nghị
HĐXX
tạm
ngừng
phiên
tòa
theo
quy
định
tại
Điều
251
BLTTHS
năm
2015;
còn
những
chứng
cứ,
tài
liệu
mới
không
làm
thay
đổi
sự
thật
vụ
án,
việc
thu
thập
trái
quy
định
của
pháp
luật,
thì
đề
nghị
HĐXX
không
chấp
nhận.
Bốn
là:
Kiểm
sát
viên
phải
tự
rèn
luyện
kỹ
năng
tranh
luận,
đối
đáp
thông
qua
việc
tự
đào
tạo,
rèn
luyện
kỹ
năng
hùng
biện
mang
tính
thuyết
phục,
rèn
luyện
tác
phong
tự
tin,
trình
bày
mạch
lạc,
lưu
loát,
thái
độ
bình
tĩnh,
đúng
mực,
tôn
trọng
người
đối
đáp,
tranh
luận,
ứng
xử
có
văn
hóa
tại
phiên
tòa.
Thực
tiễn,
khi
nghe
KSV
báo
cáo
án,
Lãnh
đạo
Viện,
Phòng
nghiệp
vụ
và
một
số
KSV
có
kinh
nghiệm
nên
đặt
ra
các
câu
hỏi
phản
biện,
những
tình
huống
có
thể
phát
sinh
tại
phiên
tòa
như
bị
cáo
không
nhận
tội,
người
làm
chứng
khai
khác
với
quá
trình
điều
tra,
truy
tố
hoặc
các
tình
tiết
làm
thay
đổi
bản
chất
vụ
án
để
KSV
nêu
ra
ý
kiến
bảo
vệ
quan
điểm
của
mình.
Đặc
biệt,
cần
rèn
luyện
khả
năng
phản
ứng
linh
hoạt
trước
các
tình
huống,
vấn
đề
mới
phát
sinh
tại
phiên
tòa,
bằng
cách
VKS
địa
phương
nên
dành
một
thời
gian
nhất
định
để
các
KSV
có
trình
độ,
tham
gia
kiểm
sát
xét
xử
nhiều
vụ
án
hình
sự
trong
đơn
vị
trao
đổi
kỹ
năng,
kinh
nghiệm
về
hoạt
động
đối
đáp
tranh
luận
cho
các
đồng
nghiệp,
đồng
thời
đây
cũng
là
thời
gian
để
hướng
dẫn,
kèm
cho
các
Kiểm
sát
viên
mới
để
họ
ngày
càng
vững
vàng
trong
công
tác
THQCT,
KSXX
sơ
thẩm
vụ
án
hình
sự,
đặc
biệt
là
trong
kỹ
năng
tranh
luận.
Năm
là:
tăng
cường
phối
hợp
tổ
chức
các
phiên
tòa
rút
kinh
nghiệm
giữa
VKS
và
Tòa
án,
thông
qua
việc
tổ
chức
các
phiên
tòa
rút
kinh
nghiệm,
khi
xem
xét
đánh
giá
chứng
cứ,
giúp
cho
Kiểm
sát
viên
nâng
cao
kỹ
năng
tranh
tụng,
đáp
ứng
yêu
cầu
cải
cách
tư
pháp
trong
giai
đoạn
hiện
nay.
Tác
giả:
Ấu
Bá
Lãng
-
Phó
trưởng
phòng
1,
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang