Trang nhất » Tin Tức » Xây dựng ngành

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 134

   Từ thực tiễn giải quyết vụ án “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; Tội “Đưa hối lộ”; Tội “Nhận hối lộ” xảy ra tại Thôn Lục Liêu, xã Tân Thanh, tỉnh Tuyên Quang


Thứ hai - 28/09/2026 16:28
 
Từ thực tiễn giải quyết vụ án “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; Tội “Đưa hối lộ”; Tội “Nhận hối lộ” xảy ra tại Thôn Lục Liêu, xã Tân Thanh, tỉnh Tuyên Quang và những kinh nghiệm để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố khi giải quyết những vụ án “Vi phạm về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

 
Ngày 20/01/2026 Tòa án nhân dân khu vực M – Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án tuyên các bị cáo Phùng Văn Q; Phùng Tiến Đ phạm 2 tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; Tội đưa hối lộ; bị cáo Lê Thanh T phạm tội Nhận hối lộ; bị cáo Phùng Văn H; Phùng Văn N; Triệu Thị Q; Phùng Văn N; Triệu Văn D phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, tuyên các mức hình phạt từ 6 tháng tù đến 7 năm 6 tháng tù. Sau khi xét xử xong trong thời hạn luật định các bị cáo kháng cáo kêu oan, đề nghị xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
 
Ngày 21/9/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án. Phát biểu quan điểm tại phiên tòa, đại diện VKSND Tỉnh Tuyên Quang khẳng định hành vi của các bị cáo trong vụ án được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với tội Đưa hối lộ theo điều 364 BLHS; tội Nhận hối lộ theo điều 354 BLHS đủ căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi sai phạm của mình xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết mới, thấy rằng cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ, mức hình phạt thỏa đáng, do vậy giữ nguyên mức án đã tuyên tại cấp sơ thẩm.
 
Đối với tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự. Qua nghiên cứu hồ sơ, thấy rằng quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ, tuy nhiên khi giải quyết vụ án việc sử dụng chứng cứ để xác định trách nhiệm hình sự của từng bị cáo chưa đảm bảo khách quan, khoa học, còn thiếu sót cần phải khắc phục cụ thể như sau:
 
1. Xác định khối lượng lâm sản trên cơ sở hệ thống chứng cứ
 
Khối lượng lâm sản là tình tiết cần chứng minh, lời khai, tài liệu ghi chép của các bị cáo, biên bản khám nghiệm, kết luận giám định và các tài liệu về mua bán, vận chuyển là những nguồn chứng cứ được sử dụng để xác định tình tiết này. Vì vậy, không thể đồng nhất số liệu ghi chép trong một tài liệu với khối lượng lâm sản thực tế nếu số liệu đó chưa được kiểm tra, đối chiếu với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
 
Trong vụ án, cấp sơ thẩm chủ yếu căn cứ giấy ghi chép của Phùng Văn Q và Phùng Tiến Đ để xác định khối lượng gỗ. Tuy nhiên, các tài liệu này được ghi chép sơ sài, không thể hiện đầy đủ đơn vị tính, chủng loại, khối lượng, có trường hợp sử dụng cách tính “m³ đúp”. Mặt khác, việc gỗ của nhiều hộ dân được tập kết, ghép chung trong quá trình vận chuyển cũng gây khó khăn cho việc xác định khối lượng thực tế của từng người.
 
2. Đánh giá mâu thuẫn về khối lượng lâm sản
 
Trong vụ án, giữa số liệu ghi chép tay của các bị cáo và Kết luận giám định số 1073CNR-VP ngày 25/11/2025 của Viện nghiên cứu Công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có sự chênh lệch đáng kể. Do đó không có cơ sở để áp dụng một tỷ lệ sai số chung. Trong trường hợp khối lượng lâm sản là căn cứ xác định trách nhiệm hình sự, việc sử dụng số liệu nào phải căn cứ vào phương pháp xác định, cơ sở khoa học, quy định chuyên ngành và sự phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
 
3. Trưng cầu giám định phải đúng nội dung cần chứng minh
 
Thông tư số 26/2022/TT-BNNPTNT được viện dẫn trong quá trình xác định khối lượng lâm sản. Trong vụ án, Kết luận giám định số 1073CNR-VP ngày 25/11/2025 có sự chênh lệch về khối lượng gỗ làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đáng kể so với số liệu ghi chép tay của bị cáo Q và Đ. Sau đó, Cơ quan điều tra đề nghị giải thích về kết quả giám định và được trả lời liên quan đến việc chưa trừ vỏ, chưa có căn cứ quy đổi từ gỗ có vỏ sang gỗ không có vỏ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không sử dụng số liệu này và không trưng cầu giám định bổ sung để làm rõ.
 
4. Không sử dụng tỷ lệ ước tính để xác định khối lượng lâm sản
 
Tại phiên tòa cấp sơ thẩm đã thống nhất trừ 12% củi, cành, dăm, vỏ trên tổng khối lượng theo số liệu ghi chép của các bị cáo để xác định khối lượng làm căn cứ truy tố.
 
Tuy nhiên, tỷ lệ 12% được xác định trên cơ sở làm việc với một số cơ sở thu mua, chưa thể hiện căn cứ khoa học để áp dụng cho toàn bộ khối lượng lâm sản trong vụ án.
 
5. Đối chiếu các chứng cứ khác với kết quả khám nghiệm hiện trường
 
Đối với trường hợp cây đã bị khai thác, gốc cây còn lại tại hiện trường là nguồn dữ liệu quan trọng để xác định, kiểm chứng khối lượng lâm sản, thông qua số lượng, đường kính, chủng loại, vị trí và đặc điểm khu vực khai thác.
 
Các kết quả khám nghiệm hiện trường cần được đối chiếu với lời khai của các bị cáo, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan..., tài liệu ghi chép tay của bị cáo Q và kết luận giám định để đánh giá tính phù hợp, thống nhất của các nguồn chứng cứ. Trong vụ án, việc đo đường kính gốc cây và xác định cây tương đồng đã được thực hiện phục vụ giám định. Do đó, cần làm rõ phương pháp đo, cách thu thập, xử lý dữ liệu và mức độ phù hợp với thực tế hiện trường.
 
6. Thống nhất số liệu giữa giám định và định giá tài sản
 
Khối lượng lâm sản là căn cứ quan trọng không chỉ để xác định trách nhiệm hình sự mà còn để định giá tài sản. Vì vậy, số liệu về khối lượng sử dụng trong giám định và định giá phải được kiểm tra, đối chiếu, bảo đảm thống nhất.
 
Trong vụ án, Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2025 sử dụng số liệu từ giấy ghi chép cá nhân của bị cáo Q và Đ; việc phân loại đường kính căn cứ vào lời khai, trong khi đơn giá giữa một số chủng loại còn chưa thống nhất. Đáng chú ý, khối lượng sử dụng để định giá xác định giá trị thiệt hại không thống nhất với khối lượng làm căn cứ truy tố sau khi trừ 12%.
 
Cấp phúc thẩm xét thấy những mâu thuẫn chưa được làm rõ trong vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm hình sự của các bị cáo, do đó đã quyết định hủy một phần bản án về tội “Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” để điều tra, xét xử lại bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
 
Từ thực tiễn vụ án, bài viết phân tích những vấn đề đặt ra trong việc thu thập, trưng cầu giám định và đánh giá chứng cứ về khối lượng lâm sản trong những vụ án “Vi phạm quy định về khai thác, bảo về rừng và lâm sản” để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử, cần chú trọng một số nội dung sau:
 
Một là, ngay từ giai đoạn điều tra, xác định đầy đủ các chứng cứ có ý nghĩa đối với việc định tội, định khung, nội dung trưng cầu giám định phải cụ thể về đối tượng, đơn vị tính, phương pháp xác định và thành phần lâm sản được tính, loại trừ.
 
Hai là, tăng cường kiểm sát hoạt động giám định, nhất là việc kiểm tra dữ liệu đầu vào, phương pháp đo, tính, quy đổi và cơ sở của kết luận giám định.
 
Ba là, đối chiếu kết quả giám định với kết quả khám nghiện hiện trường, gốc cây, tài liệu mua bán, cân, vận chuyển và lời khai, không sử dụng một nguồn chứng cứ đơn lẻ khi chưa được kiểm chứng.
 
Bốn là, không sử dụng tỷ lệ ước tính thay cho căn cứ chuyên môn khi tỷ lệ đó ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự.
 
Năm là, bảo đảm thống nhất số liệu về khối lượng và chủng loại lâm sản giữa căn cứ truy tố và định giá tài sản; khi dữ liệu đầu vào thay đổi phải kiểm tra, đánh giá lại các kết quả có liên quan.
 
Sáu là, nâng cao kỹ năng đánh giá chứng cứ của Kiểm sát viên theo hướng đánh giá toàn diện hệ thống chứng cứ, bảo đảm các chứng cứ có tính logic, nhất quán và có khả năng kiểm chứng, đáp ứng yêu cầu thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
 
 
                                                Người viết bài: Vũ Thị Thanh Nga; Phùng Ngọc Minh – Phòng 7 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top