Từ
thực
tiễn
giải
quyết
vụ
án
“Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản”;
Tội
“Đưa
hối
lộ”;
Tội
“Nhận
hối
lộ”
xảy
ra
tại
Thôn
Lục
Liêu,
xã
Tân
Thanh,
tỉnh
Tuyên
Quang
và
những
kinh
nghiệm
để
nâng
cao
chất
lượng
thực
hành
quyền
công
tố
khi
giải
quyết
những
vụ
án
“Vi
phạm
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản”.
Ngày
20/01/2026
Tòa
án
nhân
dân
khu
vực
M
–
Tuyên
Quang
mở
phiên
tòa
xét
xử
sơ
thẩm
vụ
án
tuyên
các
bị
cáo
Phùng
Văn
Q;
Phùng
Tiến
Đ
phạm
2
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản;
Tội
đưa
hối
lộ;
bị
cáo
Lê
Thanh
T
phạm
tội
Nhận
hối
lộ;
bị
cáo
Phùng
Văn
H;
Phùng
Văn
N;
Triệu
Thị
Q;
Phùng
Văn
N;
Triệu
Văn
D
phạm
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản,
tuyên
các
mức
hình
phạt
từ
6
tháng
tù
đến
7
năm
6
tháng
tù.
Sau
khi
xét
xử
xong
trong
thời
hạn
luật
định
các
bị
cáo
kháng
cáo
kêu
oan,
đề
nghị
xem
xét
lại
toàn
bộ
hồ
sơ
vụ
án
và
kháng
cáo
xin
giảm
nhẹ
hình
phạt.
Ngày
21/9/2026,
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh
Tuyên
Quang
mở
phiên
tòa
xét
xử
phúc
thẩm
vụ
án.
Phát
biểu
quan
điểm
tại
phiên
tòa,
đại
diện
VKSND
Tỉnh
Tuyên
Quang
khẳng
định
hành
vi
của
các
bị
cáo
trong
vụ
án
được
khởi
tố,
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm
đối
với
tội
Đưa
hối
lộ
theo
điều
364
BLHS;
tội
Nhận
hối
lộ
theo
điều
354
BLHS
đủ
căn
cứ,
đúng
người,
đúng
tội,
không
oan
sai,
tại
phiên
tòa
phúc
thẩm
các
bị
cáo
đã
thành
khẩn
khai
báo,
nhận
thức
được
hành
vi
sai
phạm
của
mình
xin
giảm
nhẹ
hình
phạt,
tuy
nhiên
đánh
giá
tính
chất,
mức
độ
hành
vi
phạm
tội,
tình
tiết
mới,
thấy
rằng
cấp
sơ
thẩm
đã
đánh
giá
đầy
đủ,
mức
hình
phạt
thỏa
đáng,
do
vậy
giữ
nguyên
mức
án
đã
tuyên
tại
cấp
sơ
thẩm.
Đối
với
tội
Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản
theo
quy
định
tại
Điều
232
Bộ
luật
Hình
sự.
Qua
nghiên
cứu
hồ
sơ,
thấy
rằng
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
tại
giai
đoạn
sơ
thẩm,
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
đã
khởi
tố
về
tội
danh
đối
với
các
bị
cáo
là
có
căn
cứ,
tuy
nhiên
khi
giải
quyết
vụ
án
việc
sử
dụng
chứng
cứ
để
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự
của
từng
bị
cáo
chưa
đảm
bảo
khách
quan,
khoa
học,
còn
thiếu
sót
cần
phải
khắc
phục
cụ
thể
như
sau:
1.
Xác
định
khối
lượng
lâm
sản
trên
cơ
sở
hệ
thống
chứng
cứ
Khối
lượng
lâm
sản
là
tình
tiết
cần
chứng
minh,
lời
khai,
tài
liệu
ghi
chép
của
các
bị
cáo,
biên
bản
khám
nghiệm,
kết
luận
giám
định
và
các
tài
liệu
về
mua
bán,
vận
chuyển
là
những
nguồn
chứng
cứ
được
sử
dụng
để
xác
định
tình
tiết
này.
Vì
vậy,
không
thể
đồng
nhất
số
liệu
ghi
chép
trong
một
tài
liệu
với
khối
lượng
lâm
sản
thực
tế
nếu
số
liệu
đó
chưa
được
kiểm
tra,
đối
chiếu
với
các
chứng
cứ
khác
trong
hồ
sơ
vụ
án.
Trong
vụ
án,
cấp
sơ
thẩm
chủ
yếu
căn
cứ
giấy
ghi
chép
của
Phùng
Văn
Q
và
Phùng
Tiến
Đ
để
xác
định
khối
lượng
gỗ.
Tuy
nhiên,
các
tài
liệu
này
được
ghi
chép
sơ
sài,
không
thể
hiện
đầy
đủ
đơn
vị
tính,
chủng
loại,
khối
lượng,
có
trường
hợp
sử
dụng
cách
tính
“m³
đúp”.
Mặt
khác,
việc
gỗ
của
nhiều
hộ
dân
được
tập
kết,
ghép
chung
trong
quá
trình
vận
chuyển
cũng
gây
khó
khăn
cho
việc
xác
định
khối
lượng
thực
tế
của
từng
người.
2.
Đánh
giá
mâu
thuẫn
về
khối
lượng
lâm
sản
Trong
vụ
án,
giữa
số
liệu
ghi
chép
tay
của
các
bị
cáo
và
Kết
luận
giám
định
số
1073CNR-VP
ngày
25/11/2025
của
Viện
nghiên
cứu
Công
nghiệp
rừng
thuộc
Viện
khoa
học
Lâm
nghiệp
Việt
Nam
có
sự
chênh
lệch
đáng
kể.
Do
đó
không
có
cơ
sở
để
áp
dụng
một
tỷ
lệ
sai
số
chung.
Trong
trường
hợp
khối
lượng
lâm
sản
là
căn
cứ
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự,
việc
sử
dụng
số
liệu
nào
phải
căn
cứ
vào
phương
pháp
xác
định,
cơ
sở
khoa
học,
quy
định
chuyên
ngành
và
sự
phù
hợp
với
các
chứng
cứ
khác
trong
hồ
sơ
vụ
án.
3.
Trưng
cầu
giám
định
phải
đúng
nội
dung
cần
chứng
minh
Thông
tư
số
26/2022/TT-BNNPTNT
được
viện
dẫn
trong
quá
trình
xác
định
khối
lượng
lâm
sản.
Trong
vụ
án,
Kết
luận
giám
định
số
1073CNR-VP
ngày
25/11/2025
có
sự
chênh
lệch
về
khối
lượng
gỗ
làm
căn
cứ
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
đáng
kể
so
với
số
liệu
ghi
chép
tay
của
bị
cáo
Q
và
Đ.
Sau
đó,
Cơ
quan
điều
tra
đề
nghị
giải
thích
về
kết
quả
giám
định
và
được
trả
lời
liên
quan
đến
việc
chưa
trừ
vỏ,
chưa
có
căn
cứ
quy
đổi
từ
gỗ
có
vỏ
sang
gỗ
không
có
vỏ.
Tuy
nhiên,
cấp
sơ
thẩm
không
sử
dụng
số
liệu
này
và
không
trưng
cầu
giám
định
bổ
sung
để
làm
rõ.
4.
Không
sử
dụng
tỷ
lệ
ước
tính
để
xác
định
khối
lượng
lâm
sản
Tại
phiên
tòa
cấp
sơ
thẩm
đã
thống
nhất
trừ
12%
củi,
cành,
dăm,
vỏ
trên
tổng
khối
lượng
theo
số
liệu
ghi
chép
của
các
bị
cáo
để
xác
định
khối
lượng
làm
căn
cứ
truy
tố.
Tuy
nhiên,
tỷ
lệ
12%
được
xác
định
trên
cơ
sở
làm
việc
với
một
số
cơ
sở
thu
mua,
chưa
thể
hiện
căn
cứ
khoa
học
để
áp
dụng
cho
toàn
bộ
khối
lượng
lâm
sản
trong
vụ
án.
5.
Đối
chiếu
các
chứng
cứ
khác
với
kết
quả
khám
nghiệm
hiện
trường
Đối
với
trường
hợp
cây
đã
bị
khai
thác,
gốc
cây
còn
lại
tại
hiện
trường
là
nguồn
dữ
liệu
quan
trọng
để
xác
định,
kiểm
chứng
khối
lượng
lâm
sản,
thông
qua
số
lượng,
đường
kính,
chủng
loại,
vị
trí
và
đặc
điểm
khu
vực
khai
thác.
Các
kết
quả
khám
nghiệm
hiện
trường
cần
được
đối
chiếu
với
lời
khai
của
các
bị
cáo,
người
làm
chứng,
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan...,
tài
liệu
ghi
chép
tay
của
bị
cáo
Q
và
kết
luận
giám
định
để
đánh
giá
tính
phù
hợp,
thống
nhất
của
các
nguồn
chứng
cứ.
Trong
vụ
án,
việc
đo
đường
kính
gốc
cây
và
xác
định
cây
tương
đồng
đã
được
thực
hiện
phục
vụ
giám
định.
Do
đó,
cần
làm
rõ
phương
pháp
đo,
cách
thu
thập,
xử
lý
dữ
liệu
và
mức
độ
phù
hợp
với
thực
tế
hiện
trường.
6.
Thống
nhất
số
liệu
giữa
giám
định
và
định
giá
tài
sản
Khối
lượng
lâm
sản
là
căn
cứ
quan
trọng
không
chỉ
để
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự
mà
còn
để
định
giá
tài
sản.
Vì
vậy,
số
liệu
về
khối
lượng
sử
dụng
trong
giám
định
và
định
giá
phải
được
kiểm
tra,
đối
chiếu,
bảo
đảm
thống
nhất.
Trong
vụ
án,
Kết
luận
định
giá
tài
sản
số
17/KL-HĐĐGTS
ngày
09/7/2025
sử
dụng
số
liệu
từ
giấy
ghi
chép
cá
nhân
của
bị
cáo
Q
và
Đ;
việc
phân
loại
đường
kính
căn
cứ
vào
lời
khai,
trong
khi
đơn
giá
giữa
một
số
chủng
loại
còn
chưa
thống
nhất.
Đáng
chú
ý,
khối
lượng
sử
dụng
để
định
giá
xác
định
giá
trị
thiệt
hại
không
thống
nhất
với
khối
lượng
làm
căn
cứ
truy
tố
sau
khi
trừ
12%.
Cấp
phúc
thẩm
xét
thấy
những
mâu
thuẫn
chưa
được
làm
rõ
trong
vụ
án
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
việc
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự
của
các
bị
cáo,
do
đó
đã
quyết
định
hủy
một
phần
bản
án
về
tội
“Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác
bảo
vệ
rừng
và
lâm
sản”
để
điều
tra,
xét
xử
lại
bảo
đảm
việc
xét
xử
đúng
người,
đúng
tội,
đúng
pháp
luật.
Từ
thực
tiễn
vụ
án,
bài
viết
phân
tích
những
vấn
đề
đặt
ra
trong
việc
thu
thập,
trưng
cầu
giám
định
và
đánh
giá
chứng
cứ
về
khối
lượng
lâm
sản
trong
những
vụ
án
“Vi
phạm
quy
định
về
khai
thác,
bảo
về
rừng
và
lâm
sản”
để
nâng
cao
chất
lượng
thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử,
cần
chú
trọng
một
số
nội
dung
sau:
Một
là,
ngay
từ
giai
đoạn
điều
tra,
xác
định
đầy
đủ
các
chứng
cứ
có
ý
nghĩa
đối
với
việc
định
tội,
định
khung,
nội
dung
trưng
cầu
giám
định
phải
cụ
thể
về
đối
tượng,
đơn
vị
tính,
phương
pháp
xác
định
và
thành
phần
lâm
sản
được
tính,
loại
trừ.
Hai
là,
tăng
cường
kiểm
sát
hoạt
động
giám
định,
nhất
là
việc
kiểm
tra
dữ
liệu
đầu
vào,
phương
pháp
đo,
tính,
quy
đổi
và
cơ
sở
của
kết
luận
giám
định.
Ba
là,
đối
chiếu
kết
quả
giám
định
với
kết
quả
khám
nghiện
hiện
trường,
gốc
cây,
tài
liệu
mua
bán,
cân,
vận
chuyển
và
lời
khai,
không
sử
dụng
một
nguồn
chứng
cứ
đơn
lẻ
khi
chưa
được
kiểm
chứng.
Bốn
là,
không
sử
dụng
tỷ
lệ
ước
tính
thay
cho
căn
cứ
chuyên
môn
khi
tỷ
lệ
đó
ảnh
hưởng
đến
việc
xác
định
trách
nhiệm
hình
sự.
Năm
là,
bảo
đảm
thống
nhất
số
liệu
về
khối
lượng
và
chủng
loại
lâm
sản
giữa
căn
cứ
truy
tố
và
định
giá
tài
sản;
khi
dữ
liệu
đầu
vào
thay
đổi
phải
kiểm
tra,
đánh
giá
lại
các
kết
quả
có
liên
quan.
Sáu
là,
nâng
cao
kỹ
năng
đánh
giá
chứng
cứ
của
Kiểm
sát
viên
theo
hướng
đánh
giá
toàn
diện
hệ
thống
chứng
cứ,
bảo
đảm
các
chứng
cứ
có
tính
logic,
nhất
quán
và
có
khả
năng
kiểm
chứng,
đáp
ứng
yêu
cầu
thực
hành
quyền
công
tố,
kiểm
sát
hoạt
động
tư
pháp.
Người
viết
bài: Vũ
Thị
Thanh
Nga;
Phùng
Ngọc
Minh
–
Phòng
7