Hôn
nhân
là
quan
hệ
nhân
thân,
được
xác
lập
trên
cơ
sở
tự
nguyện
và
bình
đẳng
giữa
vợ
và
chồng.
Khi
quan
hệ
hôn
nhân
lâm
vào
tình
trạng
trầm
trọng,
đời
sống
chung
không
thể
kéo
dài,
mục
đích
của
hôn
nhân
không
đạt
được,
pháp
luật
cho
phép
vợ,
chồng
hoặc
cả
hai
người
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
ly
hôn.
Nhưng
việc
giải
quyết
ly
hôn
sẽ
trở
nên
phức
tạp
hơn
khi
một
bên
vợ
hoặc
chồng
mắc
bệnh
tâm
thần
hoặc
bệnh
khác
dẫn
đến
không
còn
khả
năng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
thì
vấn
đề
không
chỉ
dừng
lại
ở
việc
xác
định
tình
trạng
hôn
nhân
mà
vấn
đề
khó
khăn
hơn
nằm
ở
chỗ:
làm
thế
nào
để
vừa
bảo
đảm
quyền
tự
quyết
về
quan
hệ
hôn
nhân
của
bên
yêu
cầu
ly
hôn,
vừa
bảo
vệ
thực
chất
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
người
được
cho
là
không
có
khả
năng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
trong
chính
vụ
án
đó?
Đây
là
điểm
giao
thoa
giữa
pháp
luật
Hôn
nhân
và
gia
đình,
pháp
luật
Dân
sự
và
pháp
luật
Tố
tụng
dân
sự;
đồng
thời
cũng
là
vấn
đề
đặt
ra
trực
tiếp
đối
với
công
tác
kiểm
sát
việc
tuân
theo
pháp
luật
trong
quá
trình
giải
quyết
các
vụ
án
Hôn
nhân
và
gia
đình.
Trên
cơ
sở
nghiên
cứu
các
quy
định
của
pháp
luật
nhận
thấy,
yêu
cầu
giải
quyết
ly
hôn
khi
một
bên
vợ
hoặc
chồng
có
dấu
hiệu
hoặc
mắc
bệnh
tâm
thần
là
một
trong
những
quyền
yêu
cầu
hợp
pháp
của
vợ
hoặc
chồng,
không
thuộc
các
hành
vi
bị
cấm
để
bảo
vệ
chế
độ
hôn
nhân
và
gia
đình
theo
quy
định
tại
khoản
2
Điều
5
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
năm
2014.
Tuy
nhiên
hiện
nay,
pháp
luật
chỉ
quy
định
về
trường
hợp
giải
quyết
ly
hôn
với
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
và
quyền
yêu
cầu
của“cha,
mẹ,
người
thân
thích
khác
có
quyền
yêu
cầu
Toà
án
giải
quyết
ly
hôn
khi
một
bên
vợ,
chồng
do
bị
bệnh
tâm
thần
hoặc
mắc
bệnh
khác
mà
không
thể
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
của
mình…”
theo
quy
định
tại
khoản
3
Điều
24,
khoản
2
Điều
51
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
năm
2014
mà
chưa
có
quy
định
về
việc
giải
quyết
ly
hôn
trong
trường
hợp
khi
một
bên
vợ
hoặc
chồng
có
dấu
hiệu
bị
bệnh
tâm
thần
hoặc
bị
bệnh
tâm
thần
mà
chưa
có
quyết
định
tuyên
bố
người
này
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
của
Toà
án.
Trên
thực
tế,
khi
Toà
án
nhận
được
yêu
cầu
khởi
kiện
về
việc
ly
hôn
kèm
theo
các
tài
liệu,
chứng
cứ
trong
đó
có
những
tài
liệu
chứng
minh
một
bên
vợ,
chồng
đang
có
dấu
hiệu
hoặc
mắc
bệnh
tâm
thần
thì
Toà
án
vẫn
tiến
hành
thụ
lý,
giải
quyết
vụ
án
và
xác
định
người
đó
là
đương
sự.
Song,
trong
quá
trình
giải
quyết
vụ
án
đặt
ra
vấn
đề
vợ,
chồng
là
người
bị
bệnh
tâm
thần
không
có
khả
năng
biết
nội
dung
yêu
cầu
khởi
kiện
để
đưa
ra
ý
kiến
về
việc
giải
quyết
vụ
án
bằng
hoạt
động
viết
bản
tự
khai,
lấy
lời
khai;
không
có
khả
năng
nhận
các
văn
bản
tố
tụng,
tham
gia
các
phiên
họp,
phiên
hoà
giải,
phiên
xét
xử
của
Tòa
án
để
đảm
bảo
tiến
trình
tố
tụng
và
vì
xét
thấy
giữa
vợ,
chồng
trong
vụ
án
đang
mâu
thuẫn,
xung
đột
về
lợi
ích
cũng
như
quyền
và
nghĩa
vụ
tố
tụng
nên
không
thể
thực
hiện
việc
đại
diện
cho
nhau.
Vì
vậy,
có
quan
điểm
cho
rằng
cần
đưa
người
giám
hộ
cho
người
bị
tâm
thần
làm
người
đại
diện
tham
gia
tố
tụng
để
đảm
bảo
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
cho
họ.
Hiện
nay,
pháp
luật
chỉ
quy
định
các
căn
cứ
xác
lập
quan
hệ
đại
diện,
giám
hộ
giữa
vợ
và
chồng
trong
việc
xác
lập,
thực
hiện,
chấm
dứt
giao
dịch
và
trong
trường
hợp
một
bên
bị
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
theo
quy
định
khoản
3
Điều
24
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
năm
2014,
cụ
thể
“Trong
trường
hợp
một
bên
vợ,
chồng
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
mà
bên
kia
có
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
ly
hôn
thì
căn
cứ
vào
quy
định
về
giám
hộ
trong
Bộ
luật
dân
sự,
Tòa
án
chỉ
định
người
khác
đại
diện
cho
người
bị
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
để
giải
quyết
việc
ly
hôn.”
Căn
cứ
quy
định
tại
khoản
1
Điều
22
Bộ
luật
Dân
sự
năm
2015:
“Khi
một
người
do
bị
bệnh
tâm
thần
hoặc
mắc
bệnh
khác
mà
không
thể
nhận
thức,
làm
chủ
được
hành
vi
thì
theo
yêu
cầu
của
người
có
quyền,
lợi
ích
liên
quan
hoặc
của
cơ
quan,
tổ
chức
hữu
quan,
Tòa
án
ra
quyết
định
tuyên
bố
người
này
là
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
trên
cơ
sở
kết
luận
giám
định
pháp
y
tâm
thần.”
Vì
vậy,
trong
trường
hợp
này,
Toà
án
cần
hướng
dẫn
cho
đương
sự
để
họ
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
tuyên
bố
người
đó
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
theo
quy
định.
Tuy
nhiên
không
phải
trong
vụ
án
nào,
đương
sự
cũng
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
này
hoặc
có
những
trường
hợp
lại
không
đáp
ứng
được
các
yêu
cầu
về
thủ
tục,
đặc
biệt
là
kết
luận
giám
định
pháp
y
tâm
thần
của
cơ
quan
chuyên
môn
về
tình
trạng
nhận
thức
của
người
bị
bệnh.
Do
đó,
Toà
án
không
thể
tuyên
bố
một
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự.
Tại
văn
bản
số
01/2017/GĐ-TANDTC
ngày
07/4/2017
của
Toà
án
nhân
dân
tối
cao
về
việc
Giải
đáp
một
số
vấn
đề
nghiệp
vụ,
trong
mục
6
phần
IV
đã
giải
đáp:
“Khi
có
chủ
thể
cho
rằng
một
người
là
đương
sự
trong
vụ
án
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thì
Tòa
án
phải
giải
thích,
hướng
dẫn
để
họ
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
tuyên
bố
người
đó
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
theo
quy
định
nêu
trên;
trường
hợp
họ
có
yêu
cầu
và
Tòa
án
thụ
lý,
giải
quyết
yêu
cầu
này
thì
Tòa
án
áp
dụng
điểm
d
khoản
1
Điều
214
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
năm
2015
để
tạm
đình
chỉ
giải
quyết
vụ
án
dân
sự;
trường
hợp
họ
không
yêu
cầu
thì
Tòa
án
giải
quyết
vụ
án
dân
sự
theo
thủ
tục
chung.”
Với
tinh
thần
trên,
mặc
dù
người
vợ
hoặc
chồng
không
bị
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
nhưng
Toà
án
vẫn
tiến
hành
giải
quyết
vụ
án
theo
thủ
tục
chung
dựa
trên
việc
tiến
hành
tống
đạt
văn
bản
tố
tụng
cho
vợ
hoặc
chồng
bị
bệnh
tâm
thần
theo
quy
định
tại
khoản
5
Điều
177
Bộ
Luật
tố
tụng
dân
sự
thông
qua
người
thân
thích
hoặc
tổ
trưởng,
trưởng
thôn
cùng
nơi
cư
trú.
Áp
dụng
các
quy
định
về
việc
trường
hợp
vắng
mặt
đương
sự
trong
khi
xét
xử
theo
quy
định
tại
Điều
227,
Điều
228
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự;
đánh
giá
tính
có
căn
cứ,
tính
hợp
pháp
của
những
tài
liệu,
chứng
cứ
đương
sự
giao
nộp,
các
tài
liệu,
chứng
cứ
Toà
án
thu
thập,
xác
minh
tình
trạng
hôn
nhân,
nguyên
nhân
mâu
thuẫn
để
giải
quyết
vụ
án.
Từ
đó,
khi
kiểm
sát
vụ
án
ly
hôn
có
một
bên
đương
sự
có
dấu
hiệu
hoặc
mắc
bệnh
tâm
thần,
cần
tập
trung
làm
rõ
một
số
vấn
đề
sau:
-
Thứ
nhất,
kiểm
sát
việc
xác
định
tình
trạng
thực
tế
của
đương
sự:
Cần
xem
xét
toàn
diện
hồ
sơ
bệnh
án,
giấy
tờ
điều
trị,
kết
luận
chuyên
môn,
xác
nhận
của
cơ
sở
y
tế,
lời
khai
của
người
thân
và
các
tài
liệu
khác
để
đánh
giá
dấu
hiệu
về
khả
năng
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
của
đương
sự.
Không
nên
chỉ
căn
cứ
vào
việc
người
đó
có
giấy
xác
nhận
mắc
bệnh
tâm
thần
để
đồng
nhất
với
tình
trạng
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thực
tế…
-
Thứ
hai,
kiểm
sát
việc
Tòa
án
giải
thích,
hướng
dẫn
quyền
yêu
cầu
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự:
Khi
có
căn
cứ
cho
rằng
đương
sự
có
thể
thuộc
trường
hợp
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
cần
kiểm
sát
việc
Tòa
án
giải
thích,
hướng
dẫn
cho
người
có
quyền,
lợi
ích
liên
quan
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
theo
Điều
22
Bộ
luật
Dân
sự
và
hướng
dẫn
tại
Giải
đáp
số:
01/2017/GĐ-TANDTC
ngày
07/4/2017
của
Toà
án
nhân
dân
Tối
cao.
Đây
không
nên
được
xem
là
một
thủ
tục
mang
tính
hình
thức,
việc
giải
thích
phải
giúp
người
có
quyền
hiểu
được
ý
nghĩa
pháp
lý
của
việc
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
hậu
quả
đối
với
việc
tham
gia
tố
tụng
và
cơ
chế
đại
diện,
giám
hộ
sau
khi
có
quyết
định
của
Tòa
án.
-
Thứ
ba,
trường
hợp
người
có
quyền
không
yêu
cầu
Toà
án
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
cần
kiểm
sát
đặc
biệt
chặt
chẽ
quá
trình
tố
tụng
trong
việc
tống
đạt,
triệu
tập;
xác
định
khả
năng
tham
gia
phiên
họp,
phiên
hòa
giải,
phiên
tòa;
đánh
giá
chứng
cứ;
xác
minh
tình
trạng
hôn
nhân,
con
chung
và
tài
sản
chung;
đặc
biệt
là
những
vấn
đề
có
khả
năng
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
quyền,
lợi
ích
của
người
có
dấu
hiệu
hoặc
mắc
bệnh
tâm
thần.
-
Thứ
tư,
kiểm
sát
việc
giải
quyết
trong
trường
hợp
có
yêu
cầu
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự:
Nếu
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
thực
hiện
quyền
yêu
cầu
tuyên
bố
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thì
Kiểm
sát
viên
kiểm
sát
việc
Tòa
án
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
việc
giải
quyết
vụ
án
Hôn
nhân
và
gia
đình
theo
quy
định
tại
điểm
d
khoản
1
Điều
214
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
đồng
thời
kiểm
sát
việc
Toà
án
thực
hiện
các
thủ
tục
giải
quyết
yêu
cầu
tuyên
bố
một
người
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
theo
quy
định
tại
Chương
XXIV
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự.
Trong
thực
tiễn
giải
quyết,
có
những
vụ
án
ly
hôn
với
quan
hệ
tranh
chấp
về
quan
hệ
hôn
nhân,
con
chung
đơn
giản.
Bên
cạnh
đó,
lại
có
những
vụ
án
phức
tạp
hơn
liên
quan
đến
chia
tài
sản
chung
trong
thời
kỳ
hôn
nhân
với
giá
trị
tài
sản
lớn,
vì
vậy
câu
hỏi
đặt
ra
rằng,
liệu
việc
giải
quyết
vụ
án
theo
thủ
tục
chung
có
đảm
bảo
tuyệt
đối
cho
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
người
có
dấu
hiệu
bị
tâm
thần
trong
vụ
án
hay
không?
Với
những
phân
tích
trên,
tác
giả
đưa
ra
kiến
nghị:
Cần
nghiên
cứu,
hoàn
thiện
các
quy
định
của
pháp
luật
đối
với
vụ
án
Hôn
nhân
và
gia
đình
về
việc
giải
quyết
Ly
hôn
với
một
bên
đương
sự
có
dấu
hiệu
bị
bệnh
tâm
thần
hoặc
bị
bệnh
tâm
thần
nhưng
chưa
có
quyết
định
tuyên
bố
người
này
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
của
Toà
án
bằng
việc
làm
rõ
sự
cần
thiết
hay
không
cần
thiết
việc
tuyên
bố
người
này
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
để
thực
hiện
cơ
chế
giám
hộ,
đại
diện
nhằm
đảm
bảo
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
cho
đương
sự
là
người
có
dấu
hiệu
hoặc
bị
tâm
thần
trong
vụ
án.
Tác
giả:
Bùi
Ngọc
Huyền