Năm
2018,
toàn
ngành
kiểm
sát
đã
xác
định
nhiệm
vụ
nâng
cao
chất
lượng,
hiệu
quả
công
tác
kiểm
sát
việc
giải
quyết
các
vụ,
việc
dân
sự,
vụ
án
hành
chính,
kinh
doanh,
thương
mại,
lao
động
và
những
việc
khác
theo
quy
định
là
một
trong
những
nhiệm
vụ
trọng
tâm.
Để
thực
hiện
tốt
nhiệm
vụ
đó,
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
là
hoạt
động
quan
trọng
hàng
đầu
của
quá
trình
thực
hiện
chức
năng,
nhiệm
vụ
của
ngành
kiểm
sát
nhân
dân
trong
tố
tụng
dân
sự,
có
mối
quan
hệ
chặt
chẽ
và
là
tiền
đề,
cơ
sở
cho
công
tác
kháng
nghị,
kiến
nghị;
đảm
bảo
việc
chấp
hành
nghiêm
chỉnh
pháp
luật,
đảm
bảo
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
các
cá
nhân,
tổ
chức.
Xuất
phát
từ
tầm
quan
trọng
đó,
căn
cứ
vào
tình
hình
thực
tế
của
đơn
vị,
bám
sát
kế
hoạch
của
ngành,
tôi
chọn
chuyên
đề
“Kỹ
năng
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
sơ
thẩm”
làm
chuyên
đề
nghiên
cứu.
1.
Kỹ
năng
kiểm
sát
các
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
sơ
thẩm
của
Tòa
án
để
thực
hiện
quyền
yêu
cầu,
kiến
nghị,
kháng
nghị
theo
quy
định
tại
khoản
1
Điều
21
BLTTDS
Trước
hết,
khi
nhận
được
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
các
tranh
chấp
dân
sự
của
Tòa
án;
Kiểm
sát
viên,
Kiểm
tra
viên
được
phân
công
phải
vào
sổ
theo
đúng
cột
mục
và
lập
phiếu
kiểm
sát
(theo
mẫu
quy
định
của
ngành)
đối
với
mỗi
bản
án,
quyết
định;
đối
chiếu
với
các
quy
định
của
pháp
luật
để
kiểm
sát
các
nội
dung
sau:
-
Kiểm
sát
về
thời
hạn
Tòa
án
gửi
bản
án,
quyết
định
cho
Viện
kiểm
sát
có
đúng
theo
quy
định
tại
các
Điều
luật
tương
ứng
trong
BLTTDS
không?
-
Kiểm
sát
về
hình
thức
của
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án
có
đúng
theo
mẫu
của
Hội
đồng
thẩm
phán
TANDTC
(ban
hành
kèm
theo
Nghị
quyết
số
01/
2017/NQ-HĐTP
ngày
13
tháng
01
năm
2017
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao);
đồng
thời
đối
chiếu
họ
tên,
địa
chỉ
của
đương
sự
trong
bản
án,
quyết
định
có
đúng
với
họ
tên,
địa
chỉ
của
đương
sự
trong
Thông
báo
thụ
lý
hoặc
Thông
báo
đưa
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan
của
Tòa
án
đã
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
không?
nếu
có
sự
khác
nhau
về
họ
tên,
địa
chỉ
của
đương
sự
thì
phải
trực
tiếp
nghiên
cứu
hồ
sơ
của
Tòa
án
xem
sự
khác
nhau
đó.
-
Kiểm
sát
về
thời
hạn
chuẩn
bị
xét
xử
theo
quy
định
tại
Điều
203
BLTTDS
bằng
cách
đối
chiếu
số,
ngày,
tháng,
năm
thụ
lý
với
ngày
Tòa
án
ra
quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự,
quyết
định
đưa
vụ
án
ra
xét
xử.
-
Kiểm
sát
về
thành
phần,
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
đã
đúng
quy
định
của
BLTTDS
chưa,
đặc
biệt
là
người
có
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ
liên
quan
theo
quy
định
tại
Điều
73
BLTTDS.
Thực
tiễn
còn
có
vụ
án
xác
định
sai
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
của
đương
sự,
vi
phạm
phổ
biến
là
nhầm
lẫn
giữa
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng
giữa
bị
đơn
và
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan,
không
đưa
người
liên
quan
vào
tham
gia
tố
tụng….
Dạng
vi
phạm
này
thường
gặp
ở
các
vụ
án
tranh
chấp
di
sản
thừa
kế,
tranh
chấp
quyền
sử
dụng
đất,…
-
Về
nội
dung:
Khi
kiểm
sát
đối
với
các
bản
án,
quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự,
quyết
định
đình
chỉ,
quyết
định
tạm
đình
chỉ
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự,
cần
phải
kiểm
sát
về
căn
cứ
đình
chỉ,
tạm
đình
chỉ
có
đúng
theo
quy
định
tại
các
Điều
214,
217
BLTTDS;
hậu
quả
của
việc
đình
chỉ,
tạm
đình
chỉ
giải
quyết
vụ
án
có
đúng
với
quy
định
tại
các
Điều
215,
218
BLTTDS;
cần
đối
chiếu
với
biên
bản
hòa
giải
thành
mà
Tòa
án
căn
cứ
vào
đó
để
ra
Quyết
định
công
nhận
có
đúng
với
nội
dung
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
không,
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
có
vi
phạm
điều
cấm
của
pháp
luật
và
có
trái
đạo
đức
xã
hội
không;
kiểm
sát
việc
xử
lý
tiền
tạm
ứng
án
phí,
lệ
phí
của
Tòa
án
có
đúng
theo
quy
định
của
Pháp
lệnh
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án
số
10/2009/UBTVQH
ngày
27/02/2009
của
Ủy
ban
thường
vụ
Quốc
Hội
(đối
với
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
thụ
lý
trước
ngày
01/01/2017)
và
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14
ngày
30/12/2016
của
Ủy
ban
Thường
vụ
Quốc
hội
về
mức
thu,
miễn,
giảm,
thu,
nộp,
quản
lý
và
sử
dụng
án
phí
và
lệ
phí
tòa
án
(áp
dụng
theo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
đương
sự)
đối
chiếu
với
số
ngày
tháng
biên
lai
thu
tiền
tạm
ứng
án
phí
lệ
phí
Tòa
án
có
đúng
không…
Trường
hợp
KSV
không
tham
gia
phiên
tòa
thì
phải
nghiên
cứu
kỹ
lời
trình
bày
của
các
đương
sự
và
phần
nhận
định
trong
bản
án,
xem
Tòa
án
xác
định
quan
hệ
pháp
luật
tranh
chấp,
xác
định
tư
cách
tham
gia
tố
tụng,
giải
quyết
vụ
án
có
vượt
quá
phạm
vi
yêu
cầu
khởi
kiện,
có
yêu
cầu
phản
tố,
yêu
cầu
độc
lập
không?
áp
dụng
pháp
luật
tố
tụng,
pháp
luật
nội
dung
hay
văn
bản
Nghị
quyết
nào
để
giải
quyết
và
có
còn
hiệu
lực
thi
hành
không,
viện
dẫn
các
điều
luật
đã
chính
xác,
đã
đầy
đủ
và
tính
án
phí
đúng
chưa
…
Chỉ
khi
nào
xác
định
được
đúng
đối
tượng
tranh
chấp
thì
Tòa
án
mới
xác
định
đúng
quan
hệ
pháp
luật;
nếu
Tòa
án
xác
định
không
đúng
đối
tượng
tranh
chấp
sẽ
dẫn
đến
việc
áp
dụng
pháp
luật
không
đúng.
Cần
lưu
ý
xem
yêu
cầu
cuối
cùng
của
nguyên
đơn,
bị
đơn
có
yêu
cầu
phản
tố
và
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan
có
yêu
cầu
độc
lập
và
tài
liệu
chứng
cứ
để
chứng
minh
tại
phiên
tòa
theo
quy
định
tại
Điều
243
BLTTDS
có
được
bản
án
phản
ánh
đầy
đủ
hay
không?
đây
là
cơ
sở
để
HĐXX
chấp
nhận
toàn
bộ,
chấp
nhận
một
phần
hay
bác
bỏ
yêu
cầu
của
nguyên
đơn,
yêu
cầu
phản
tố
của
bị
đơn
và
yêu
cầu
độc
lập
của
người
có
quyền
lợi
nghĩa
vụ
liên
quan.
Kiểm
sát
viên,
Kiểm
tra
viên
cần
xem
xét
việc
các
đương
sự
xuất
trình
các
tài
liệu
có
liên
quan
để
chứng
minh
cho
lời
khai
của
mình
và
xem
xét
việc
Tòa
án
chấp
nhận
các
tài
liệu
đó
có
giá
trị
chứng
minh
hay
không.
Đặc
biệt,
cần
lưu
ý
kiểm
sát
phần
nhận
định
của
bản
án
để
xem
xét
tính
có
căn
cứ
và
tính
hợp
pháp
trong
những
phân
tích
của
Tòa
án;
nhận
định
của
Tòa
án
có
dựa
trên
những
nội
dung
được
phản
ánh
hay
không.
Qua
đó,
phát
hiện
ra
các
vi
phạm
của
Tòa
án
như:
Nội
dung
và
nhận
định
mâu
thuẫn
nhau,
nhận
định
không
phản
ánh
hết
nội
dung
hoặc
phản
ánh
sai
nội
dung,
hoặc
nhận
định
mang
tính
chủ
quan
của
Hội
đồng
xét
xử…
Về
phần
quyết
định
của
bản
án
vì
đây
là
nội
dung
cơ
bản
để
xác
định
bản
án có
vi
phạm
không,
mức
độ
vi
phạm
như
thế
nào.
Tại
điểm
c,
khoản
2
Điều
266
BLTTDS
quy
định:
Trong
phần
quyết
định
phải
ghi
rõ
các
căn
cứ
pháp
luật,
quyết
định
của
HĐXX
về
từng
vấn
đề
phải
giải
quyết
trong
vụ
án,
về
áp
dụng
biện
pháp
khẩn
cấp
tạm
thời,
án
phí,
chi
phí
tố
tụng
khác
và
quyền
kháng
cáo
đối
với
bản
án;
trường
hợp
có
quyết
định
phải
thi
hành
ngay
thì
phải
ghi
rõ
trong
quyết
định
đó.
Đối
với
bản
án
mà
Kiểm
sát
viên
tham
gia
phiên
tòa,
ngoài
các
nội
dung
trên
cần
phải
xem
phần
quyết
định
của
bản
án
có
đúng
với
quyết
định
trong
bản
án
Tòa
án
đã
tuyên
tại
phiên
tòa
không…
Quá
trình
kiểm
sát,
nếu
phát
hiện
có
vi
phạm
của
Tòa
án
thì
tùy
theo
tính
chất,
mức
độ
vi
phạm
tập
hợp
vi
phạm
để
kiến
nghị
yêu
cầu
Tòa
án
khắc
phục,
rút
kinh
nghiệm
hoặc
báo
cáo
Viện
trưởng
thực
hiện
quyền
kháng
nghị
theo
quy
định.
Đồng
thời,
phải
sao
gửi
bản
án,
quyết
định
sơ
thẩm,
phiếu
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
cho
Viện
kiểm
sát
cấp
phúc
thẩm
đúng
mẫu
quy
định,
đầy
đủ
và
kịp
thời.
2.
Thực
trạng
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
tại
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
thành
phố
Tuyên
Quang
2.1.
Những
kết
quả
đạt
được
Từ
năm
2014
đến
nay
thông
qua
công
tác
kiểm
sát,
đã
phát
hiện
được
các
vi
phạm
của
Tòa
án
như:
Vi
phạm
về
thời
hạn
gửi
bản
án,
quyết
định;
thời
hạn
chuẩn
bị
xét
xử
và
tính
án
phí
không
đúng
quy
định
của
BLTTDS;
sai
số,
ngày,
tháng,
năm,
ký
hiệu
văn
bản;
sai
tên
đương
sự;
áp
dụng
không
đúng
căn
cứ
pháp
luật;
vi
phạm
về
thời
hạn
ra
quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự;
tính
lãi
suất,
án
phí
không
đúng
quy
định
của
pháp
luật;
Bản
án
không
tuyên
quyền
kháng
cáo
của
người
có
quyền
lợi,
nghĩa
vụ
liên
quan
vắng
mặt
tại
phiên
tòa;
Viện
kiểm
sát
đã
ban
hành
21
kiến
nghị
yêu
cầu
Tòa
án
khắc
phục,
sửa
chữa
vi
phạm
và
được
Tòa
án
chấp
nhận.
Đồng
thời,
đơn
vị
cũng
đã
ban
hành
04
kháng
nghị
đối
với
Bản
án,
quyết
định
dân
sự
của
Tòa
án
và
được
cấp
phúc
thẩm
chấp
nhận
yêu
cầu
kháng
nghị;
báo
cáo
Viện
kiểm
sát
tỉnh
kháng
nghị
03
vụ,
được
chấp
nhận.
2.2.
Tồn
tại,
hạn
chế,
nguyên
nhân
Bên
cạnh
những
kết
quả
đạt
được,
thời
gian
qua
việc
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
Bản
án,
Quyết
định
dân
sự
tại
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
thành
phố
Tuyên
Quang
còn
những
tồn
tại
hạn
chế
sau:
Bị
cấp
phúc
thẩm
hủy
án
dân
sự
sơ
thẩm
03
vụ.
Đơn
vị
đã
tiến
hành
kiểm
điểm,
làm
rõ
trách
nhiệm
của
Lãnh
đạo
phụ
trách
và
Kiểm
sát
viên
được
phân
công
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
trên.
2.3.
Những
khó
khăn,
vướng
mắc
trong
quá
trình
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
của
Tòa
án
Thực
tiễn
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
thời
gian
qua
cho
thấy
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
của
Tòa
án
còn
không
ít
những
khó
khăn
như:
Đối
với
những
vụ
việc
Viện
kiểm
sát
không
tham
gia
phiên
tòa,
thực
tế
còn
có
trường
hợp
việc
yêu
cầu
chuyển
hồ
sơ
vụ
án
cho
Viện
kiểm
sát
chưa
được
Tòa
án
thực
hiện
nghiêm;
việc
chuyển
hồ
sơ
chậm
của
Tòa
án
làm
ảnh
hưởng
đến
thời
hạn
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát,
dẫn
đến
số
lượng
kháng
nghị
còn
hạn
chế
so
với
án
bị
hủy,
sửa
cơ
bản.
Đồng
thời,
hiện
nay
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
và
các
văn
bản
hướng
dẫn
thi
hành
không
quy
định
Tòa
án
phải
gửi
cho
Viện
kiểm
sát
biên
bản
hòa
giải
thành
nên
công
tác
kiểm
sát
Quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự
còn
gặp
nhiều
khó
khăn.
Ngoài
ra,
tại
Điều
268
Bộ
luật
tố
tụng
dân
sự
2015
không
quy
định
rõ
thời
gian
Tòa
án
chỉnh
sửa,
bổ
sung
bản
án,
có
trường
hợp
Toà
án
thông
báo
sửa
chữa,
bổ
sung
bản
án
khi
bản
án
đã
ban
hành
vài
năm,
hoặc
khi
Viện
kiểm
sát
có
kháng
nghị
thì
Toà
án
lại
thông
báo
sửa
chữa,
bổ
sung
bản
án. Bên
cạnh
đó,
hiện
nay
chưa
có
văn
bản
pháp
luật
nào
quy
định
cụ
thể
các
trường
hợp
nào
được
coi
là
vi
phạm
nghiêm
trọng
thủ
tục
tố
tụng
dân
sự
để
ban
hành
kháng
nghị
dẫn
đến
nhiều
cách
hiểu
khác
nhau.
3.
Giải
pháp
thực
hiện
tốt
công
tác
Kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
giải
quyết
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
trong
thời
gian
tới
Một
là,
Tiếp
tục
thực
hiện
chủ
trương
Lãnh
đạo
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tỉnh
đã
đề
ra
“tự
đào
tạo,
đào
tạo
tại
chỗ”,
“cầm
tay
chỉ
việc”
đối
với
đội
ngũ
cán
bộ,
Kiểm
sát
viên,
đặc
biệt
là
các
đồng
chí
Kiểm
sát
viên,
Kiểm
tra
viên
mới
bổ
nhiệm,
cán
bộ
trẻ
mới
vào
ngành.
Hai
là, Lãnh
đạo
Viện
cần
chú
trọng
quán
triệt
và
thường
xuyên
kiểm
tra,
đôn
đốc
việc
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
của
Tòa
án;
cán
bộ,
Kiểm
sát
viên
phải
nghiên
cứu,
nắm
đầy
đủ
và
thực
hiện
nghiêm
chỉnh
các
quy
định
của
pháp
luật
và
của
ngành
về
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự
của
Tòa
án,
coi
đây
là
một
trong
những
khâu
công
tác
kiểm
sát
cơ
bản
của
đơn
vị
mình.
Ba
là,
quá
trình
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định,
cần
tổng
hợp
các
dạng
vi
phạm
phổ
biến
của
Tòa
án,
thiếu
sót
của
Viện
kiểm
sát
trong
quá
trình
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
việc
dân
sự
nói
chung,
kiểm
sát
Bản
án
nói
riêng
nhằm
tổng
hợp
các
kinh
nghiệm
cho
mỗi
cán
bộ,
kiểm
sát
viên,
đặc
biệt
là
đội
ngũ
cán
bộ,
kiểm
sát
viên
trẻ.
Bốn
là,
cần
tổ
chức
họp
liên
ngành
Kiểm
sát
-
Tòa
án
xây
dựng
Quy
chế
phối
hợp,
đặc
biệt
chú
trọng
các
nội
dung
như:
Khi
gửi
Quyết
định
công
nhận
sự
thỏa
thuận
của
các
đương
sự,
Tòa
án
phải
gửi
kèm
theo
biên
bản
hòa
giải
thành;
thời
hạn
sửa
chữa,
bổ
sung
bản
án
và
thực
hiện
nghiêm
việc
chuyển
hồ
sơ
giải
quyết
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
theo
yêu
cầu
của
Viện
kiểm
sát.
Năm là,
thành
lập
“Tổ
giúp
việc
nâng
cao
chất
lượng
công
tác
kiểm
sát
bản
án,
quyết
định
dân
sự”.
Trong
đó,
lực
lượng
nòng
cốt
là
Kiểm
sát
viên
bộ
phận
dân
sự
+
các
đồng
chí
Kiểm
sát
viên
có
năng
lực
ở
các
khâu
công
tác
khác
làm
thành
viên.
Khi
kiểm
sát
mỗi
bản
án,
quyết
định
dân
sự;
đồng
thời
sao
gửi
bản
án,
quyết
định
cho
các
đồng
chí
thành
viên
cùng
nghiên
cứu
cho
ý
kiến.
Trên
cơ
sở
ý
kiến
của
toàn
bộ
các
đồng
chí
trong
tổ
giúp
việc,
Lãnh
đạo
phụ
trách
tổng
hợp,
quyết
định.
Trên
đây
là
một
số
kỹ
năng
của
bản
thân
tôi
trong
quá
trình
thực
hiện
công
tác
kiểm
sát
Bản
án,
quyết
định
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
dân
sự
sơ
thẩm;
tôi
rất
mong
nhận
được
ý
kiến
đóng
góp
của
các
đồng
chí.
Nguyễn
Thị
Như
Ngọc