Vấn
đề
bảo
đảm
quyền
con
người,
quyền
công
dân
trong
việc
tạm
giữ,
tạm
giam
được
Đảng,
Nhà
nước
ta
quan
tâm
đặc
biệt,
đây
không
chỉ
giới
hạn
trong
phạm
vi
quốc
gia
mà
còn
là
vấn
đề
Nhân
quyền
Quốc
tế;
Bộ
luật
hình
sự
(sửa
đổi),
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự
(sửa
đổi),
Luật
thi
hành
tạm
giữ,
tạm
giam
năm
2015
(sau
đây
gọi
tắt
là
BLHS,
BLTTHS,
Luật
thi
hành
TGTG)
chuẩn
bị
có
hiệu
lực
pháp
luật,
đòi
hỏi
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng,
người
tiến
hành
tố
tụng
cần
nâng
cao
trách
nhiệm,
đạo
đức
công
vụ;
chấp
hành
đúng
các
quy
định
của
pháp
luật,
góp
phần
bảo
đảm
pháp
chế
thống
nhất;
nâng
cao
hiệu
quả,
hiệu
lực
của
luật
pháp
trong
đời
sống
xã
hội.
Trong
khuôn
khổ
bài
viết,
tác
giả
muốn
trao
đổi
về
một
số
vấn
đề
có
tính
khái
quát
trong
hoạt
động
giam
giữ
trên
cơ
sở
thực
hiện
các
quy
định
của
BLHS,
BLTTHS,
Luật
thi
hành
TGTG
có
hiệu
lực
từ
ngày
01/7/2016;
Luật
Tổ
chức
VKSND
năm
2014
nhằm
nâng
cao
chất
lượng,
hiệu
quả
công
tác
kiểm
sát
việc
tạm
giữ,
tạm
giam,
hạn
chế
thấp
nhất
những
vi
phạm,
thiếu
sót
xảy
ra:
1-
Vấn
đề
áp
dụng
các
quy
định
của
pháp
luật
đối
với
người
bị
tạm
giữ
(Điều
59,
117,
118
BLTTHS),
người
bị
tạm
giam
(Điều
60,
61,
119
BLTTHS)
-
Đối
với
người
bị
tạm
giữ
trong
trường
hợp
bắt
quả
tang
(Điều
111),
bắt
khẩn
cấp
(Điều
110),
bắt
truy
nã
(Điều
112)
thì
thời
hạn
tạm
giữ
là
03
ngày,
trường
hợp
phải
gia
hạn
thêm
nhưng
không
quá
02
lần
(Khoản
2
Điều
118);
tổng
cộng
thời
hạn
tạm
giữ
không
quá
09
ngày.
Cơ
quan
điều
tra
có
trách
nhiệm
giải
thích
quyền
và
nghĩa
vụ
và
giao
ngay
quyết
định
tạm
giữ,
quyết
định
gia
hạn
tạm
giữ
cho
người
bị
tạm
giữ
(thể
hiện
bằng
biên
bản
giao
nhận
theo
Điều
137,
138
BLTTHS).
Trước
khi
hết
thời
hạn
tạm
giữ,
gia
hạn
tạm
giữ
01
ngày
Cơ
quan
điều
tra
có
trách
nhiệm
xem
xét
giải
quyết
việc
tiếp
tục,
hoặc
hủy
bỏ
biện
pháp
tạm
giữ.
Trường
hợp
xét
thấy
cần
tiếp
tục
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
(tạm
giam)
thì
cơ
quan
điều
tra
ra
lệnh
tạm
giam
bị
can
và
đề
nghị
Viện
kiểm
sát
phê
chuẩn.
-
Sau
khi
ra
lệnh
tạm
giam
bị
can
(Điều
119
BLTTHS),
lệnh
bắt
bị
can
để
tạm
giam
(Điều
113
BLTTHS)
được
Viện
kiểm
sát
phê
chuẩn
thì
thời
hạn
tạm
giam,
gia
hạn
thời
hạn
tạm
giam
để
điều
tra
thực
hiện
theo
Điều
173
BLTTHS;
thời
hạn
tạm
giam,
gia
hạn
tạm
giam
trong
giai
đoạn
truy
tố
tương
ứng
với
thời
hạn
quy
định
tại
Điều
240
BLTTHS.
Trên
cơ
sở
đó,
Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát
có
trách
nhiệm
giải
thích
quyền
và
nghĩa
vụ
của
bị
can,
đồng
thời
giao
ngay
lệnh
tạm
giam,
lệnh
bắt
tạm
giam,
các
quyết
định
phê
chuẩn,
quyết
định
ra
hạn
tạm
giam
cho
người
bị
tạm
giam
trong
giai
đoạn
điều
tra,
truy
tố;
hoặc
Tòa
án
phải
giao
ngay
Lệnh
tạm
giam
bị
can,
bị
cáo
trong
giai
đoạn
xét
xử
cho
người
bị
tạm
giam,
thể
hiện
bằng
biên
bản
giao
nhận
(Điều
137,
138
BLTTHS).
Trước
khi
hết
thời
hạn
tạm
giam,
gia
hạn
thời
hạn
tạm
giam
là
05
ngày,
Cơ
quan
điều
tra,
Viện
kiểm
sát,
Tòa
án
có
trách
nhiệm
xem
xét
giải
quyết
việc
tiếp
tục,
thay
đổi
hoặc
hủy
bỏ
biện
pháp
tạm
giam
đối
với
bị
can,
bị
cáo
(Điều
125
BLTTHS);
đồng
thời
phải
giao
ngay
lệnh,
quyết
định
tố
tụng
đó
cho
Cơ
quan
giam
giữ
và
người
bị
tạm
giam,
trước
khi
hết
thời
hạn
tạm
giam
(ngày
cuối
cùng)
ghi
trong
lệnh
tạm
giam
(Vận
dụng
Thông
tư
liên
tịch
số
05/2005/TTLT-CA-VKS-BQP
ngày
07/9/2005
của
Bộ
Công
an,
Viện
kiểm
sát
tối
cao,
Bộ
Quốc
phòng
về
quan
hệ
giữa
Cơ
quan
Điều
tra
và
Viện
kiểm
sát
trong
việc
thực
hiện
một
số
quy
định
của
BLTTHS
năm
2003;
Nghị
quyết
số
04/2004
/NQ-HĐTP
ngày
05/11/2004
của
Hội
đồng
thẩm
phán
TAND
tối
cao
Hướng
dẫn
một
số
quy
định
trong
Phần
thứ
ba
“Xét
sử
sơ
thẩm”
của
BLTTHS
năm
2003).
-
Đối
với
Nhà
tạm
giữ,
Trại
tạm
giam
(sau
đây
gọi
tắt
là
Cơ
quan
giam
giữ)
khi
tiếp
nhận
người
bị
tạm
giữ,
người
bị
tạm
giam
phải
thực
hiện
đầy
đủ
các
quy
định
về
trình
tự,
thủ
tục,
hồ
sơ
tạm
giữ,
tạm
giam
và
thực
hiện
đúng
chế
độ
giam
giữ
(Điều
16,
17,
18,
19
Luật
thi
hành
TGTG).
Trước
khi
hết
thời
hạn
ghi
trong
quyết
định
tạm
giữ,
quyết
định
ra
hạn
tạm
giữ
01
ngày,
lệnh
tạm
giam
05
ngày,
quyết
định
gia
hạn
thời
hạn
tạm
giam
10
ngày,
Cơ
quan
giam
giữ
phải
thông
báo
bằng
văn
bản
cho
cơ
quan
đã
ra
quyết
định
tạm
giữ,
lệnh
tạm
giam
biết
thời
hạn
tạm
giữ,
tạm
giam
sắp
hết
(Điều
13
Luật
thi
hành
TGTG);
Có
trách
nhiệm
trả
tự
do
ngay
cho
người
bị
giam
giữ
khi
có
lệnh,
quyết
định
có
hiệu
lực
pháp
luật
của
cơ
quan
tố
tụng
có
thẩm
quyền.
-
Viện
kiểm
sát
thực
hiện
chức
năng
kiểm
sát
(Điều
20
BLTTHS,
Điều
42
Luật
thi
hành
TGTG)
phải
kiểm
sát
chặt
chẽ
các
chứng
cứ,
tài
liệu
do
cơ
quan
điều
tra
thu
thập
bảo
đảm
việc
tạm
giữ,
gia
hạn
thời
hạn
tạm
giữ,
lệnh
tạm
giam,
quyết
định
ra
hạn
thời
hạn
tạm
giam,
các
quyết
định
phê
chuẩn
có
căn
cứ;
bảo
đảm
việc
phân
loại
giam
giữ
đúng
đối
tượng
(Điều
16,
17,
18,
19
Luật
thi
hành
TGTG).
Trường
hợp
không
đủ
căn
cứ
thì
Viện
kiểm
sát
yêu
cầu
Cơ
quan
điều
tra
hủy
bỏ
biện
pháp
tạm
giữ
hoặc
tự
mình
trả
tự
do
ngay
cho
người
bị
tạm
giữ,
người
bị
tạm
giam
(khoản
2
Điều
22
Luật
Tổ
chức
VKSND
năm
2014;
điểm
d
khoản
2
Điều
42
Luật
thi
hành
TGTG).
Kể
từ
ngày
01/7/2016,
BLHS
năm
2015
có
hiệu
lực
pháp
luật
thì
những
vi
phạm
trong
tạm
giữ,
tạm
giam
như:
Không
ra
quyết
định
trả
tự
do
cho
người
được
trả
tự
do;
bắt,
giữ,
giam
người
không
có
căn
cứ,
trái
pháp
luật;
không
chấp
hành
quyết
định
trả
tự
do
cho
người
được
trả
tự
do;
thực
hiện
việc
bắt,
giữ,
giam
người
không
có
lệnh,
quyết
định
theo
quy
định
của
pháp
luật
hoặc
tuy
có
lệnh,
quyết
định
nhưng
chưa
có
hiệu
lực
thi
hành;
không
ra
lệnh,
quyết
định
gia
hạn
tạm
giữ,
tạm
giam
hoặc
thay
đổi,
hủy
bỏ
biện
pháp
tạm
giữ,
tạm
giam
khi
đã
hết
thời
hạn
giam
giữ
dẫn
đến
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
bị
giam
giữ
quá
hạn…
phải
được
xem
xét
trách
nhiệm
hình
sự
theo
Điều
377
BLHS.
Đối
với
hành
vi
lợi
dụng
chức
vụ,
quyền
hạn
hoặc
lạm
quyền
tha
trái
pháp
luật
người
đang
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
phải
được
xem
xét
trách
nhiệm
hình
sự
theo
Điều
378
BLHS.
2-
Một
số
giải
pháp
nhằm
thực
hiện
tốt
công
tác
kiểm
sát
việc
tạm
giữ,
tạm
giam
trong
thời
gian
tới
Thứ
nhất:
Cần
nhận
thức
đúng
đắn
giá
trị
nhân
văn
của
luật
pháp,
tôn
trọng
và
đề
cao
quyền
con
người,
nguyên
tắc
suy
đoán
vô
tội
được
ghi
nhận
trong
Hiến
pháp
năm
2013
và
pháp
luật
về
tố
tụng
hình
sự;
Quán
triệt
sâu
sắc,
triển
khai
thực
hiện
nghiêm
túc
các
Bộ
luật,
Luật
liên
quan
đến
công
tác
tạm
giữ,
tạm
giam
có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01/7/2016;
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13,
Nghị
quyết
số
110/2015/QH13
ngày
27/11/2015
của
Quốc
Hội
về
thi
hành
Bộ
Luật
hình
sự,
Bộ
luật
tố
tụng
hình
sự,
Luật
thi
hành
TGTG
năm
2015,
nhanh
chóng
đưa
các
quy
định
của
pháp
luật
vào
thực
tiễn
cuộc
sống.
Thứ
hai:
Khẩn
trương
rà
soát
các
vụ
án
hình
sự
có
bị
can,
bị
cáo
đang
bị
tạm
giam
theo
quy
định
của
BLTTHS
năm
2003
để
xem
xét
và
đối
chiếu
về
căn
cứ
áp
dụng
biện
pháp
ngăn
chặn
cũng
như
thời
hạn
giam
giữ
đối
với
từng
loại
tội
phạm
và
từng
đối
tượng
phạm
tội
cụ
thể
(nhất
là
đối
với
người
chưa
thành
niên)
nhằm
giải
quyết
kịp
thời
đúng
quy
định
của
pháp
luật
trước
khi
BLTTHS
năm
2015
có
hiệu
lực
pháp
luật.
Triệt
để
vận
dụng
nguyên
tắc
có
lợi
cho
bị
can,
bị
cáo
trong
quá
trình
giải
quyết
việc
tạm
giữ,
tạm
giam.
Thứ
ba:
Đối
với
người
tiến
hành
tố
tụng,
cần
nêu
cao
tinh
thần
trách
nhiệm,
khách
quan,
vô
tư,
tôn
trọng
pháp
luật
và
đạo
đức
nghề
nghiệp;
nghiên
cứu,
nắm
vững
các
quy
định
của
luật
pháp;
hướng
dẫn,
giải
thích
pháp
luật
và
tạo
mọi
điều
kiện
thuận
lợi
cho
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
thực
hiện
đầy
đủ
các
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
mà
họ
được
hưởng
hoặc
không
bị
pháp
luật
hạn
chế
theo
quy
định
của
BLTTHS
và
Luật
thi
hành
TGTG.
Chú
trọng
về
thời
hạn
giam
giữ
để
ban
hành
văn
bản
tố
tụng
giải
quyết
việc
tạm
giữ,
tạm
giam
theo
đúng
quy
định.
Thực
hiện
việc
giao
lệnh,
quyết
định
tố
tụng
về
giam
giữ
cho
người
bị
tạm
giữ,
bị
tạm
giam
và
cơ
quan
giam
giữ
bảo
đảm
kịp
thời,
đúng
thời
hạn
luật
định.
Thứ
tư:
Viện
kiểm
sát
thường
xuyên
kiểm
tra,
đối
chiếu,
nắm
chắc
về
thời
hạn
giam
giữ,
từ
đó
kịp
thời
yêu
cầu
Cơ
quan
giam
giữ
ban
hành
văn
bản
thông
báo
về
thời
hạn
giam
giữ
cho
cơ
quan,
người
tiến
hành
tố
tụng
biết
để
giải
quyết
việc
giam
giữ
đúng
thời
hạn.
Kiên
quyết
yêu
cầu
đưa
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
ra
khỏi
nơi
giam
giữ
ngay
sau
khi
hết
thời
hạn
tạm
giữ,
tạm
giam
ghi
trong
lệnh,
quyết
định
giam
giữ
nếu
họ
không
bị
giam
giữ
về
một
tội
phạm
khác.
Công
tác
kiểm
sát
việc
tạm
giữ,
tạm
giam
phối
hợp
chặt
chẽ
với
khâu
công
tác
kiểm
sát
giải
quyết
các
vụ
án
hình
sự
để
nắm
chắc
số
người
bị
bắt,
tạm
giữ,
tạm
giam
ở
tất
cả
các
giai
đoạn
tố
tụng
(điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
sơ
thẩm,
phúc
thẩm),
qua
đó
kịp
thời
kiểm
sát
về
thủ
tục,
trình
tự,
tính
có
căn
cứ
và
hợp
pháp
của
từng
trường
hợp
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
nhằm
phát
hiện
và
xử
lý
vi
phạm;
không
để
xảy
ra
việc
giam
giữ
người
không
có
căn
cứ,
trái
pháp
luật.
Thứ
năm:
Kịp
thời
nắm
và
giải
quyết
tin
báo
tố
giác
tội
phạm
trong
hoạt
động
giam
giữ;
tiếp
nhận,
giải
quyết
khiếu
nại,
tố
cáo
của
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam
theo
quy
định.
Đối
với
các
trường
hợp
gửi
lệnh,
quyết
định
tố
tụng
về
tạm
giữ,
tạm
giam
chậm,
không
kịp
thời
dẫn
đến
việc
quá
thời
hạn
giam
giữ
nhưng
người
bị
tạm
giữ,
tạm
giam,
Cơ
quan
giam
giữ
không
nhận
được
lệnh,
quyết
định
về
giam
giữ
có
hiệu
lực
pháp
luật
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
hoặc
những
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
nghiêm
trọng
khác
thì
Viện
kiểm
sát
cần
xác
định
rõ
nguyên
nhân,
hậu
quả,
trách
nhiệm
của
cơ
quan,
cá
nhân
có
liên
quan
để
kháng
nghị,
kiến
nghị
yêu
cầu
xử
lý
vi
phạm
hoặc
khởi
tố
về
hình
sự
khi
có
dấu
hiệu
tội
phạm.
Lưu
Tiến
Độ