Qua
kiểm
sát
việc
tuân
theo
pháp
luật
trong
tố
tụng
dân
sự
trong
thời
gian
qua,
tôi
xin
trao
đổi
về
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
trong
trường
hợp
miễn
án
phí
theo
quy
định
tại
Điểm
b
khoản
1
Điều
12
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016
của
Uỷ
ban
Thường
vụ
Quốc
Hội
khoá
X14
(Nghị
quyết
326):
quy
định
về
mức
thu,
nộp,
miễn,
giảm
nghĩa
vụ
nộp
tiền
tạm
ứng
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án; miễn,
giảm
thu,
nộp,
quản
lý,
xử
lý
tạm
ứng
án
phí,
lệ
phí
Tòa
án
trong
một
vụ
án
cụ
thể
như
sau:
Vụ
án
dân
sự
thụ
lý
số
198/2026/TLST-HNGĐ
ngày
24/4/2026
của
TAND
khu
vực
2:
Giải
quyết
tranh
chấp
hôn
nhân
và
gia
đình
(Xác
nhận
cha
cho
con),
giữa
nguyên
đơn
chị
Hà
Thị
H
với
bị
đơn
anh
Hà
Doãn
L.
Trong
thời
hạn
Toà
án
giải
quyết
vụ
án,
các
đương
sự
tự
nguyện
thoả
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
toàn
bộ
vụ
án
nên
ngày
13/5/2026,
TAND
Khu
vực
2
đã
ra
Quyết
định
Công
nhận
sự
thoả
thuận
của
các
đương
sự
số
246/2026/QĐST-HNGĐ:
Công
nhận
anh
Hà
Doãn
L,
sinh
năm
1994
là
cha
đẻ
của
cháu
Hà
Thị
Kim
Ng,
sinh
ngày
23/3/2020
và
là
cha
đẻ
của
cháu
Hà
Đức
Ph,
sinh
ngày
6/3/2023…Về
án
phí
trong
quyết
định
ghi
rõ
“Chị
Hà
Thị
H
thuộc
trường
hợp
được
miễn
nộp
án
phí
và
có
đơn
xin
miễn
tiền
án
phí
nêu
trên
nên
được
miễn
tiền
án
phí
theo
quy
định.
Anh
Hà
Doãn
L
phải
chịu
75.000đ
tiền
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm”;
Qua
vụ
án
trên
thấy:
về
nhận
thức
và
áp
dụng
pháp
luật
để
tính
án
phí
dân
sự
sơ
thẩm
hiện
nay
còn
tồn
tại
02
quan
điểm
khác
nhau
như
sau:
*
Quan
điểm
thứ
nhất
lập
luận
và
cho
rằng:
-
Điểm
b
Khoản
1
Điều
12
của
Nghị
quyết
số
326:
không
quy
định
cụ
thể
đối
với
vụ
án
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
chưa
thành
niên…được
miễn
án
phí,
mà
Nghị
quyết
chỉ
quy
định
là
“Người
yêu
cầu
xin
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
chưa
thành
niên,
con
đã
thành
niên
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự,
do
vậy
chỉ
áp
dụng
miễn
án
phí
đối
với
chủ
thể
tham
gia
tố
tụng
đó
là
“người
yêu
cầu”
xác
định
cha,
mẹ,
con;
việc
miễn
án
phí
đó
mang
tính
chất
cá
nhân
và
chỉ
làm
phát
sinh
quyền
miễn
nộp
án
phí
đối
với
người
thuộc
diện
được
pháp
luật
bảo
vệ.
Vì
vậy
theo
quan
điểm
này,
người
được
miễn
án
phí
phải
là
người
yêu
cầu,
còn
lại
các
đương
sự
khác
trong
vụ
án
vẫn
phải
chịu
án
phí
theo
quy
định
chung
của
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự.
-
Theo
quan
điểm
này
thì
vụ
án
trên
thuộc
trường
hợp
các
đương
sự
tự
nguyện
thoả
thuận
được
với
nhau
về
việc
giải
quyết
toàn
bộ
vụ
án
thì
chỉ
người
yêu
cầu
được
miễn
phần
án
phí
thuộc
trách
nhiệm
của
mình,
còn
bị
đơn
vẫn
phải
chịu
50%
nghĩa
vụ
án
phí
tương
ứng
theo
khoản
3
Điều
147
Bộ
luật
Tố
tụng
dân
sự
(BLTTDS)
là
đúng
quy
định;
*
Quan
điểm
thứ
hai
cho
rằng:
-
Theo
quy
định
của
BLTTDS
và
Nghị
quyết
số
326
thì
tranh
chấp
về
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
thuộc
trường
hợp
tranh
chấp
quy
định
tại khoản
4
Điều
28
của
BLTTDS cho
nên
đây
là
loại
án
hôn
nhân
và
gia
đình,
nhưng
Điều
27
của
Nghị
quyết
326
không
quy
định
cụ
thể
về
án
phí
đối
với
loại
tranh
chấp
này.
Tuy
nhiên
khoản
1
Điều
147
của
BLTTDS
và
khoản
1,
khoản
4
Điều
26
Nghị
quyết
326
quy
định
rõ
“1.
Đương
sự
phải
chịu
án
phí
sơ
thẩm
nếu
yêu
cầu
của
họ
không
được
Tòa
án
chấp
nhận,
trừ
trường
hợp
được
miễn
hoặc
không
phải
chịu
án
phí
sơ
thẩm”;
-
Tại
mục
11
phần
IV
Công
văn
số
89/TANDTC-PC
ngày
30/6/2020
của
TANDTC
đã
hướng
dẫn:
Trường
hợp
xin
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
chưa
thành
niên,
con
đã
thành
niên
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự
thì
được
miễn
nộp
tiền
tạm
ứng
án
phí
theo
quy
định
tại điểm
b
khoản
1
Điều
12
của
Nghị
quyết
số
326/2016/NQ-UBTVQH.
-
Theo
quan
điểm
này
thì
vụ
án
trên
thuộc
loại
án
được
miễn
án
phí
nên
các
đương
sự
(nguyên
đơn,
bị
đơn...)
đều
phải
được
miễn
án
phí,
việc
quyết
định
buộc
bị
đơn
phải
chịu
án
phí
là
không
đúng
với
quy
định
tại
khoản
1
Điều
147
BLTTDS
và
tinh
thần
của
khoản
1,
khoản
4
Điều
26
Nghị
quyết
326;
*
Quan
điểm
của
tác
giả:
Trong
2
quan
điểm
trên,
tác
giả
thấy
cả
2
quan
điểm
đều
có
những
lý
lẽ,
lập
luận
riêng.
Tuy
nhiên
tác
giả
đồng
tình
với
quan
điểm
thứ
2,
vì:
Qua
quá
trình
thực
hiện
công
tác
Kiểm
sát
việc
tuân
theo
pháp
luật
trong
tố
tụng
dân
sự
trong
thời
gian
qua
thấy
có
không
ít
bản
án
và
quyết
định
giải
quyết
loại
tranh
chấp
về
xác
định
cha,
mẹ
cho
con,
Toà
án
vẫn
tuyên
bị
đơn
chịu
75.000
đồng
hoặc
150.000
đồng
án
phí.
Theo
tác
giả:
Tại
các
điều
11
và
điều
12
Nghị
quyết
326
quy
định
hai
nhóm
được
miễn
nộp
tiền
tạm
ứng
án
phí,
án
phí...lệ
phí
Tòa
án
đó
là:
-
Nhóm
đối
tượng
(chủ
thể-nhóm
người)
được
miễn
án
phí
như
trẻ
em;
đương
sự
thuộc
hộ
nghèo,
cận
nghèo;
người
cao
tuổi;
người
khuyết
tật;
người
có
công
với
cách
mạng;
đồng
bào
dân
tộc
thiểu
số...;
-
Nhóm
được
miễn
theo
theo
tính
chất
vụ
án,
việc
(loại
vụ
việc,
vụ
án,
quan
hệ
tranh
chấp)
như:
Yêu
cầu
xác
định
cha,
mẹ
cho
con;
Người
yêu
cầu
bồi
thường
về
tính
mạng,
sức
khỏe,
danh
dự,
nhân
phẩm,
uy
tín...;
Tác
giả
cho
rằng,
vụ
án
yêu
cầu
xác
định
cha,
mẹ
cho
con...
là
chính
sách
bảo
vệ
trẻ
em,
bảo
vệ
quan
hệ
nhân
thân
đặc
biệt.
Mục
đích,
tinh
thần
của
quy
định
này
nhằm
khuyến
khích,
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
việc
xác
lập
quan
hệ
cha,
mẹ,
con...
đó
là
bảo
đảm
quyền
nhân
thân
đặc
biệt
được
pháp
luật
ưu
tiên
bảo
vệ
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
hôn
nhân
và
gia
đình
cũng
như
các
điều
ước
quốc
tế
mà
Việt
Nam
là
thành
viên.
Vì
vậy
vụ
án
trên
thuộc
trường
hợp
được
miễn
án
phí
theo
Điều
12
Nghị
quyết
326
thì
không
nên
đặt
ra
việc
xác
định
bên
thắng
kiện
hay
bên
thua
kiện
để
tính
án
phí;
không
đặt
ra
việc
chuyển
nghĩa
vụ
chịu
án
phí
từ
người
được
miễn
sang
người
còn
lại
mà
phải
là
không
thu
án
phí
đối
với
bất
kỳ
đương
sự
nào
dù
họ
có
thuộc
nhóm
người
nghèo,
người
già,
người
có
công
hay
không…
-
Ngoài
ra
theo
Khoản
1
Điều
11
Nghị
quyết
số
01/2024/NQ-HĐTP
ngày
16/5/2024
của
Hội
đồng
thẩm
phán
TANDTC
“Hướng
dẫn
áp
dụng
một
số
quy
định
của
pháp
luật
trong
giải
quyết
vụ
việc
về
hôn
nhân
và
gia
đình”
quy
định:
“1.
Đương
sự
phải
chịu
án
phí
trong
vụ
án
tranh
chấp
về
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
theo
quy
định
tại
Điều
26
của
Nghị
quyết
số
326/2016/UBTVQH14...,
trừ
trường
hợp
tranh
chấp
về
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
chưa
thành
niên,
con
đã
thành
niên
mất
năng
lực
hành
vi
dân
sự”.
-
Theo
tác
giả,
cần
áp
dụng
cùng
một
cơ
chế
pháp
lý
cho
những
trường
hợp
có
bản
chất
khác
nhau
đó
là:
+
Nhóm
miễn
án
phí
theo
loại
chủ
thể
(Người
cao
tuổi;
Người
khuyết
tật;
Người
có
công
với
cách
mạng;
Người
thuộc
hộ
nghèo,
hộ
cận
nghèo;
Đồng
bào
dân
tộc
thiểu
số
ở
vùng
có
điều
kiện
kinh
tế
-
xã
hội
đặc
biệt
khó
khăn).
Nhóm
đương
sự
này
có
đặc
điểm
hoàn
cảnh,
nhân
thân
hoặc
điều
kiện
kinh
tế
-
xã
hội
của
người
tham
gia
tố
tụng
và
nhóm
đương
sự
này
dù
tham
gia
bất
kỳ
loại
vụ
án
nào
thì
vẫn
được
hưởng
chính
sách
miễn
án
phí.
+
Nhóm
miễn
án
phí
theo
tính
chất
của
quan
hệ
pháp
luật
tranh
chấp
(Yêu
cầu
cấp
dưỡng;
Yêu
cầu
xác
định
cha,
mẹ
cho
con
chưa
thành
niên;
Yêu
cầu
xác
định
con
cho
cha,
mẹ
chưa
thành
niên;
Một
số
trường
hợp
người
lao
động
khởi
kiện
đòi
quyền
lợi
lao
động)…Nhóm
này
không
nằm
ở
điều
kiện
nhân
thân,
hoàn
cảnh
của
đương
sự
mà
nằm
ở
quan
hệ
pháp
luật
tranh
chấp
mà
Nhà
nước
muốn
khuyến
khích,
bảo
vệ
hoặc
tạo
điều
kiện
tiếp
cận
công
lý.
*
Từ
những
phân
tích,
nhận
định
trên,
theo
tác
giả:
Đây
chính
là
một
trong
những
vướng
mắc
mà
ngành
Tòa
án
và
ngành
Kiểm
sát
cần
có
trao
đổi,
hướng
dẫn
nghiệp
vụ,
giải
thích
quy
phạm
theo
mục
đích
bảo
vệ
quyền
trẻ
em,
cần
thống
nhất
áp
dụng
theo
hướng:
-
Khi
giải
thích,
hướng
dẫn
không
nên
căn
cứ
vào
mục
đích,
tinh
thần
ban
hành
của
quy
định:
Đối
với
điểm
b
khoản
1
Điều
12
Nghị
quyết
số
326,
mục
tiêu
của
nhà
làm
luật
không
phải
nhằm
hỗ
trợ
tài
chính
cho
riêng
người
khởi
kiện
mà
nhằm
bảo
vệ
quyền
nhân
thân
cơ
bản
của
trẻ
em
theo
quy
định
của
Luật
Hôn
nhân
và
gia
đình
đó
là
trẻ
em
có
quyền
được
xác
định
cha,
mẹ;
được
nhận
cha,
mẹ;
được
hưởng
các
quyền
nhân
thân
và
quyền
tài
sản
phát
sinh
từ
quan
hệ
cha,
mẹ,
con.
Nếu
việc
miễn
án
phí
được
hiểu
và
áp
dụng
cho
người
khởi
kiện,
nhưng
vẫn
thu
án
phí
đối
với
người
còn
lại
trong
vụ
án
thì
trên
thực
tế
vẫn
đang
thu
án
phí
đối
với
hoạt
động
tố
tụng
là
chưa
thực
sự
phù
hợp
với
mục
đích
bảo
vệ
trẻ
em
mà
nhà
làm
luật
hướng
tới.
-
Cần
giải
thích,
phân
biệt
rõ
giữa
"Nhóm
đối
tượng
được
miễn
án
phí"
với
"Nhóm
vụ
việc,
vụ
án
được
miễn
án
phí";
Tác
giả
rất
mong
nhận
được
sự
góp
ý,
trao
đổi
của
các
đồng
nghiệp.
Tác
giả:
Phạm
Anh
Tuấn,
Nguyễn
Hồng
Tư