Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Trao đổi nghiệp vụ

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG - Đã xem: 179

   Trao đổi về nhận thức và áp dụng pháp luật đối với những trường hợp Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí trong vụ án dân sự


Thứ sáu - 04/09/2026 13:53
 
Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự trong thời gian qua, tôi xin trao đổi về nhận thức và áp dụng pháp luật trong trường hợp miễn án phí theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khoá X14 (Nghị quyết 326): quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; miễn, giảm thu, nộp, quản lý, xử lý tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án trong một vụ án cụ thể như sau: Vụ án dân sự thụ lý số 198/2026/TLST-HNGĐ ngày 24/4/2026 của TAND khu vực 2: Giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình (Xác nhận cha cho con), giữa nguyên đơn chị Hà Thị H với bị đơn anh Hà Doãn L. Trong thời hạn Toà án giải quyết vụ án, các đương sự tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên ngày 13/5/2026, TAND Khu vực 2 đã ra Quyết định Công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 246/2026/QĐST-HNGĐ: Công nhận anh Hà Doãn L, sinh năm 1994 là cha đẻ của cháu Hà Thị Kim Ng, sinh ngày 23/3/2020 và là cha đẻ của cháu Hà Đức Ph, sinh ngày 6/3/2023…Về án phí trong quyết định ghi rõ “Chị Hà Thị H thuộc trường hợp được miễn nộp án phí và có đơn xin miễn tiền án phí nêu trên nên được miễn tiền án phí theo quy định. Anh Hà Doãn L phải chịu 75.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm”;

 
Qua vụ án trên thấy: về nhận thức và áp dụng pháp luật để tính án phí dân sự sơ thẩm hiện nay còn tồn tại 02 quan điểm khác nhau như sau:
 
* Quan điểm thứ nhất lập luận và cho rằng:
 
- Điểm b Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326: không quy định cụ thể đối với vụ án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên…được miễn án phí, mà Nghị quyết chỉ quy định là “Người yêu cầu xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, do vậy chỉ áp dụng miễn án phí đối với chủ thể tham gia tố tụng đó là “người yêu cầu” xác định cha, mẹ, con; việc miễn án phí đó mang tính chất cá nhân và chỉ làm phát sinh quyền miễn nộp án phí đối với người thuộc diện được pháp luật bảo vệ. Vì vậy theo quan điểm này, người được miễn án phí phải là người yêu cầu, còn lại các đương sự khác trong vụ án vẫn phải chịu án phí theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự.
 
- Theo quan điểm này thì vụ án trên thuộc trường hợp các đương sự tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì chỉ người yêu cầu được miễn phần án phí thuộc trách nhiệm của mình, còn bị đơn vẫn phải chịu 50% nghĩa vụ án phí tương ứng theo khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là đúng quy định;
 
* Quan điểm thứ hai cho rằng:
 
- Theo quy định của BLTTDS và Nghị quyết số 326 thì tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con thuộc trường hợp tranh chấp quy định tại khoản 4 Điều 28 của BLTTDS cho nên đây là loại án hôn nhân và gia đình, nhưng Điều 27 của Nghị quyết 326 không quy định cụ thể về án phí đối với loại tranh chấp này. Tuy nhiên khoản 1 Điều 147 của BLTTDS và khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326 quy định rõ “1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm”;
 
- Tại mục 11 phần IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTC đã hướng dẫn: Trường hợp xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.
 
- Theo quan điểm này thì vụ án trên thuộc loại án được miễn án phí nên các đương sự (nguyên đơn, bị đơn...) đều phải được miễn án phí, việc quyết định buộc bị đơn phải chịu án phí là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTDS và tinh thần của khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326;
 
* Quan điểm của tác giả: Trong 2 quan điểm trên, tác giả thấy cả 2 quan điểm đều có những lý lẽ, lập luận riêng. Tuy nhiên tác giả đồng tình với quan điểm thứ 2, vì:
 
Qua quá trình thực hiện công tác Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự trong thời gian qua thấy có không ít bản án và quyết định giải quyết loại tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con, Toà án vẫn tuyên bị đơn chịu 75.000 đồng hoặc 150.000 đồng án phí.
 
Theo tác giả: Tại các điều 11 và điều 12 Nghị quyết 326 quy định hai nhóm được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí...lệ phí Tòa án đó là:
 
- Nhóm đối tượng (chủ thể-nhóm người) được miễn án phí như trẻ em; đương sự thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số...;
 
- Nhóm được miễn theo theo tính chất vụ án, việc (loại vụ việc, vụ án, quan hệ tranh chấp) như: Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con; Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín...;
 
Tác giả cho rằng, vụ án yêu cầu xác định cha, mẹ cho con... là chính sách bảo vệ trẻ em, bảo vệ quan hệ nhân thân đặc biệt. Mục đích, tinh thần của quy định này nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con... đó là bảo đảm quyền nhân thân đặc biệt được pháp luật ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vì vậy vụ án trên thuộc trường hợp được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết 326 thì không nên đặt ra việc xác định bên thắng kiện hay bên thua kiện để tính án phí; không đặt ra việc chuyển nghĩa vụ chịu án phí từ người được miễn sang người còn lại mà phải là không thu án phí đối với bất kỳ đương sự nào dù họ có thuộc nhóm người nghèo, người già, người có công hay không…
 
- Ngoài ra theo Khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình” quy định: “1. Đương sự phải chịu án phí trong vụ án tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14..., trừ trường hợp tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự”.
 
- Theo tác giả, cần áp dụng cùng một cơ chế pháp lý cho những trường hợp có bản chất khác nhau đó là:
 
+ Nhóm miễn án phí theo loại chủ thể (Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). Nhóm đương sự này có đặc điểm hoàn cảnh, nhân thân hoặc điều kiện kinh tế - xã hội của người tham gia tố tụng và nhóm đương sự này dù tham gia bất kỳ loại vụ án nào thì vẫn được hưởng chính sách miễn án phí.
 
+ Nhóm miễn án phí theo tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp (Yêu cầu cấp dưỡng; Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên; Yêu cầu xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên; Một số trường hợp người lao động khởi kiện đòi quyền lợi lao động)…Nhóm này không nằm ở điều kiện nhân thân, hoàn cảnh của đương sự mà nằm ở quan hệ pháp luật tranh chấp mà Nhà nước muốn khuyến khích, bảo vệ hoặc tạo điều kiện tiếp cận công lý.

* Từ những phân tích, nhận định trên, theo tác giả: Đây chính là một trong những vướng mắc mà ngành Tòa án và ngành Kiểm sát cần có trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ, giải thích quy phạm theo mục đích bảo vệ quyền trẻ em, cần thống nhất áp dụng theo hướng:

- Khi giải thích, hướng dẫn không nên căn cứ vào mục đích, tinh thần ban hành của quy định: Đối với điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326, mục tiêu của nhà làm luật không phải nhằm hỗ trợ tài chính cho riêng người khởi kiện mà nhằm bảo vệ quyền nhân thân cơ bản của trẻ em theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình đó là trẻ em có quyền được xác định cha, mẹ; được nhận cha, mẹ; được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản phát sinh từ quan hệ cha, mẹ, con. Nếu việc miễn án phí được hiểu và áp dụng cho người khởi kiện, nhưng vẫn thu án phí đối với người còn lại trong vụ án thì trên thực tế vẫn đang thu án phí đối với hoạt động tố tụng là chưa thực sự phù hợp với mục đích bảo vệ trẻ em mà nhà làm luật hướng tới.
 
- Cần giải thích, phân biệt rõ giữa "Nhóm đối tượng được miễn án phí" với "Nhóm vụ việc, vụ án được miễn án phí";
 
Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của các đồng nghiệp.
 
Tác giả: Phạm Anh Tuấn, Nguyễn Hồng Tư 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Scroll to top