Vấn
đề
về
thời
hiệu
khởi
kiện
vụ
án
dân
sự
nói
chung
và
thời
hiệu
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
tranh
chấp
lao
động
cá
nhân
nói
riêng
đã
được
pháp
luật
quy
định.
Tuy
nhiên,
trong
thực
tiễn
giải
quyết
các
vụ
án
tranh
chấp
lao
động
tại
Tòa
án
vẫn
còn
có
những
nhận
thức
chưa
thống
nhất
về
xác
định
thời
hiệu
khởi
kiện.
Điều
155,
Điều
159
Bộ
luật
dân
sự
năm
2005
quy
định:
Thời
hiệu
khởi
kiện
là
thời
hạn
mà
chủ
thể
được
quyền
khởi
kiện
để
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
vụ
án
dân
sự
bảo
vệ
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
bị
xâm
phạm,
nếu
thời
hạn
đó
kết
thúc
thì
mất
quyền
khởi
kiện.
Bắt
đầu
thời
hiệu
khởi
kiện
vụ
án
dân
sự
được
tính
từ
ngày
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
bị
xâm
phạm,
trừ
trường
hợp
pháp
luật
có
quy
định
khác.
Điều
202
Bộ
luật
lao
động
năm
2012
quy
định:
Thời
hiệu
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
tranh
chấp
lao
động
cá
nhân
là
01
năm,
kể
từ
ngày
phát
hiện
ra
hành
vi
mà
mỗi
bên
tranh
chấp
cho
rằng
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
mình
bị
vi
phạm.
Tôi
xin
nêu
một
vụ
án:
Bà
H
là
công
nhân
của
Công
ty
cổ
phần
X
từ
năm
1992,
có
ký
hợp
đồng
lao
động.
Ngày
25/4/2012,
bà
H
có
đơn
xin
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
với
công
ty
cổ
phần
X.
Ngày
25/5/2012,
Giám
đốc
công
ty
cổ
phần
X
ra
quyết
định
số
26
đồng
ý
cho
bà
H
được
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
kể
từ
ngày
01/6/2012.
Ngày
25/6/2012
bà
H
nhận
được
quyết
định
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
nêu
trên.
Đến
ngày
21/6/2013,
bà
H
nộp
đơn
đề
nghị
giám
đốc
công
ty
cổ
phần
X
giải
quyết
tiền
trợ
cấp
khi
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
cho
bà,
Công
ty
X
đã
có
giấy
nhận
đơn
đề
nghị
nhưng
vẫn
không
giải
quyết.
Ngày
02/6/2014,
bà
H
có
đơn
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
huyện
Y
buộc
công
ty
cổ
phần
X
phải
trả
cho
bà
26.000.0000
đồng
tiền
trợ
cấp
thôi
việc
theo
quy
định
tại
Điều
42
Bộ
luật
lao
động
sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2007.
Quá
trình
giải
quyết
tại
Tòa
án,
bà
H.
trình
bày:
Sau
khi
nhận
được
Quyết
định
số
26
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
của
Công
ty
cổ
phần
X,
bà
đã
nhiều
lần
đến
Công
ty
gặp
Giám
đốc
đề
nghị
giải
quyết
tiền
trợ
cấp
khi
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
cho
mình
và
được
phía
công
ty
hứa
hẹn
sẽ
giải
quyết,
bà
đã
chờ
nhưng
không
thấy
kết
quả,
ngày
21/6/2013
bà
tiếp
tục
có
đơn
đề
nghị
Công
ty
giải
quyết
quyền
lợi
của
mình
nhưng
vẫn
không
được
giải
quyết
nên
ngày
02/6/2014
bà
đã
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
huyện
giải
quyết
quyền
lợi
cho
bà.
Phía
Công
ty
cổ
phần
X
trình
bày:
Năm
2012
Khi
bà
H
đến
yêu
cầu
giải
quyết
trợ
cấp
khi
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động,
Công
ty
đã
trả
lời
không
giải
quyết
vì
bà
H
đã
vi
phạm
thời
hạn
báo
trước,
tự
ý
nghỉ
việc
nên
Công
ty
không
có
trách
nhiệm
chi
trả
tiền
trợ
cấp
thôi
việc
cho
bà.
Việc
trình
bày
của
Công
ty
X
không
được
bà
H
thừa
nhận.
Đối
với
vụ
án
trên
có
2
quan
điểm:
Quan
điểm
thứ
nhất
cho
rằng:
Thời
hiệu
khởi
kiện
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
tranh
chấp
lao
động
cá
nhân
của
bà
H
đã
hết
vì
ngày
26/6/2012
bà
H
nhận
được
quyết
định
số
26
của
Công
ty
cổ
phần
X
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
với
mình,
bà
đã
biết
được
quyền
và
lợi
ích
của
bà
bị
xâm
phạm
nhưng
đến
ngày
02/6/2014,
tức
là
sau
gần
2
năm
bà
mới
có
đơn
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết,
như
vậy
là
đã
hết
thời
hiệu
khởi
kiện
theo
quy
định
tại
Điều
202
của
Bộ
luật
lao
động
năm
2012
(có
hiệu
lực
từ
ngày
01/5/2013).
Trong
trường
hợp
này,
Tòa
án
huyện
cần
ra
quyết
định
đình
chỉ
giải
quyết
vụ
án
lao
động
đối
với
yêu
cầu
của
bà
H.
Quan
điểm
thứ
hai
cho
rằng:
Đối
với
yêu
cầu
khởi
kiện
của
bà
H
vẫn
còn
thời
hiệu
khởi
kiện
vì
sau
khi
nhận
được
Quyết
định
số
26
ngày
25/5/2012
của
Công
ty
cổ
phần
X
đồng
ý
cho
bà
H
được
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
từ
ngày
01/6/2012,
ngày
21/6/2013,
bà
H
có
đơn
đề
nghị
Công
ty
cổ
phần
X
giải
quyết
tiền
trợ
cấp
khi
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
cho
bà
nhưng
không
được
giải
quyết.
Lúc
này,
bà
H
mới
biết
được
quyền
lợi
hợp
pháp
của
mình
bị
vi
phạm,
nên
thời
hiệu
khởi
kiện
phải
được
tính
từ
ngày
21/6/2013.
Ngày
02/6/2014,
bà
H
có
đơn
yêu
cầu
Tòa
án
giải
quyết
đối
với
yêu
cầu
khởi
kiện
của
mình
là
vẫn
nằm
trong
thời
hiệu
khởi
kiện,
Tòa
án
cần
tiếp
tục
giải
quyết
vụ
án
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Theo
tôi,
quan
điểm
thứ
hai
là
đúng
bởi
không
thể
tính
thời
hiệu
khởi
kiện
từ
ngày
bà
H
nhận
được
Quyết
định
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động,
bởi
trong
Quyết
định
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
này
không
thể
hiện
trách
nhiệm
của
bên
sử
dụng
lao
động
trong
việc
thanh
toán
các
khoản
liên
quan
đến
quyền
lợi
của
người
lao
động.
Vì
chỉ
khi
có
Quyết
định
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
mới
làm
phát
sinh
quyền
lợi
của
người
lao
động.
Tại
khoản
1
Điều
42
Bộ
luật
lao
động
sửa
đổi,
bổ
sung
năm
2007
quy
định
"
Khi
chấm
dứt
hợp
đồng
lao
động
đối
với
người
lao
động
đã
làm
việc
thường
xuyên
trong
doanh
nghiệp...người
sử
dụng
lao
động
có
trách
nhiệm
trợ
cấp
thôi
việc;
cứ
mỗi
năm
làm
việc
là
nửa
tháng
lương..."
Đối
với
Công
ty
cổ
phần
X
có
giải
quyết
hay
không
giải
quyết
quyền
lợi
cho
bà
H
đều
không
thể
hiện
các
căn
cứ
để
chứng
minh.
Đối
với
bà
H
ngày
21/6/2013
bà
có
đơn
đề
nghị
(Công
ty
cổ
phần
X
đã
có
giấy
nhận
đơn)
nhưng
Công
ty
cổ
phần
X
đã
không
tiến
hành
giải
quyết
cũng
như
không
có
văn
bản
trả
lời
về
việc
đã
giải
quyết
quyền
lợi
cho
bà
H.
Lúc
này
quyền
lợi
của
bà
H
bị
xâm
phạm
mới
được
thể
hiện
một
cách
rõ
ràng
và
bắt
đầu
được
tính
thời
hiệu
khởi
kiện.
Do
vậy,
Tòa
án
huyện
Y
tiếp
tục
các
trình
tự,
thủ
tục
theo
luật
định
để
giải
quyết
vụ
án,
bảo
đảm
được
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
cho
người
lao
động.
Trên
đây
là
các
quan
điểm
về
xác
định
thời
hiệu
khởi
kiện
đối
với
vụ
án
trên.
Rất
mong
nhận
được
nhiều
ý
kiến
trao
đổi
từ
phía
bạn
đọc.
Nguyễn
Thị
An