Tại
phiên
tòa
sơ
thẩm
một
trong
những
nội
dung
nêu
trong
luận
tội
Kiểm
sát
viên
phải
có
trách
nhiệm
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng
mức
hình
phạt
chính,
hình
phạt
bổ
sung
đối
với
bị
cáo
đây
là
điều
rất
cần
thiết.
Bởi
lẽ
nếu
không
có
phần
đề
nghị
cụ
thể
về
mức
án
thì
luật
sư,
bị
cáo
và
nhưng
người
tham
gia
tố
tụng
khác
lấy
căn
cứ
nào
để
tranh
luận,
tất
nhiên
nội
dung
tranh
luận
có
nhiều
vấn
đề
khác
như
xác
định
về
tội
danh,
tình
tiết
định
khung,
các
tình
tiết
tăng
nặng
giảm
nhẹ
trách
nhiệm
hình
sự,
trách
nhiệm
dân
sự,
xử
lý
vật
chứng
vv
và
trên
thực
tế
điều
quan
tâm
nhất
đối
với
những
người
tiến
hành
tố
tụng,
tham
gia
tố
tụng,
những
người
tham
dự
phiên
tòa
là
việc
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
áp
dụng
hình
phạt
cụ
thể
như
thế
nào
đối
với
bị
cáo,
đây
cũng
một
trong
những
tiêu
chuẩn
để
đánh
giá
năng
lực
của
Kiểm
sát
viên
trong
nội
bộ
ngành
kiểm
sát
cũng
như
nhận
xét
của
dư
luận
xã
hội.
Theo
tiến
sỹ
Dương
Thanh
Biểu
“
Tại
phiên
tòa,
Kiểm
sát
viên
là
người
đưa
ra
chứng
cứ
để
chứng
minh
hành
vi
phạm
tội
của
bị
cáo
nhằm
bảo
vệ
cáo
trạng
và
đề
xuất
hình
thức
xử
lý
đối
với
bị
cáo.
Hội
đông
xét
xử
là
người
thẩm
tra
các
tình
tiết
của
vụ
án
theo
cáo
trạng
mà
Viện
kiểm
sát
đã
truy
tố
để
quyết
định
có
xử
phạt
bị
cáo
theo
đề
nghi
của
Kiểm
sát
viên
hay
không”(1)
Vấn
đề
này
còn
có
rất
nhiều
ý
kiến
khác
nhau.
Theo
ý
kiến
của
của
luật
sư
Đinh
Văn
Quế
trong
bài
viết:
“
Kiểm
sát
viên
có
nên
đề
nghị
mức
hình
phạt
cụ
thể
?
”
Đăng
trên
Tạp
chí
Luật
sư
Việt
Nam
số
03
tháng
3/2015:
“
Từ
trước
đến
nay
trong
Bản
luận
tội
của
Kiểm
sát
viên
tại
phiên
tòa
hình
sự
sơ
thẩm
cũng
có
phần
đề
nghị
xử
phạt
bị
cáo
từ
năm...
đến
năm
tù,
phạt
cảnh
cáo,
phạt
tiền
hoặc
cho
hưởng
án
treo.
Việc
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
mức
án
thiết
tưởng
không
có
gì
phải
bàn,
nó
đã
thành
một
“
nguyên
tắc”
bất
thành
văn,
như
là
một
sự
hiển
nhiên,
ăn
sâu
vào
tiểm
thức
của
ngành
kiểm
sát
và
của
cả
xã
hội,
nếu
nói
khác
làm
khác
e
không
ổn.
Tuy
nhiên,
nghiên
cứu
quy
định
của
pháp
luật
thì
thấy
“
nguyên
tắc
này”
chẳng
được
quy
định
ở
đâu
cả
nó
chỉ
là
thói
quen
khó
sửa...”
Sau
khi
nêu
lịch
sử
có
việc
Công
tố
viên
(
thảm
phán
đứng)
đề
nghị
mức
án
tác
gỉa
cho
rằng
“Việc
kiểm
sát
viên
đề
nghị
một
mức
án
phạt
cụ
thể
khi
luận
tội
lâu
nay
đã
gây
ra
sự
hiểu
lầm
của
những
người
tham
gia
phiên
tòa
và
dư
luận.
Nếu
hội
đồng
xét
xử
quyết
định
hình
phạt
như
đề
nghị
của
Kiểm
sát
viên
thì
bị
coi
là
“
Tòa
với
Viện
chỉ
là
một”,
còn
nếu
Hội
đồng
xét
xử
quyết
định
hình
phạt
nặng
hơn
hoặc
nhẹ
hơn
hình
phạt
do
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
lại
bị
coi
là
“
Viện
Tòa
chọi
nhau”.
Phần
cuối
bài
viết
tác
giả
nêu
quan
điểm
cá
nhân:
“
Việc
kiểm
sát
viên
đề
nghị
mức
hình
phạt
tại
phiên
tòa
chỉ
là
một
thói
quen
và
thói
quen
này
nó
không
gây
hậu
quả
nghiêm
nghiệm
trọng
mà
nó
chỉ
ảnh
hưởng
đến
nhận
thức
của
những
người
tiến
hành
tố
tụng,
người
tham
gia
tố
tụng
và
những
người
dự
phiên
tòa.
Nếu
e
không
tiện
thì
phải
quy
định
cụ
thể
trong
BLTTHS
như
một
vài
nước
trên
thế
giới.
Nhưng
theo
ý
kiến
cá
nhân
tôi
thì
nên
bỏ
vì
nó
có
lợi
về
nhiều
mặt
và
không
ảnh
hưởng
gì
đến
hoạt
động
tố
tụng
của
Kiểm
sát
viên
tại
phiên
tòa
”.
Theo
ý
kiến
cá
nhân
tôi,
hiện
nay
trình
độ
dân
trí
đã
cao,
nhờ
vào
khoa
học
công
nghệ
thông
tin
phát
triển
phần
lớn
mọi
người
đã
phân
biệt
được
chức
năng,
thẩm
quyền
của
mỗi
cơ
quan,
tổ
chức
không
thể
coi
việc“
Tòa
với
Viện
chỉ
là
một”,
còn
nếu
Hội
đồng
xét
xử
quyết
định
hình
phạt
nặng
hơn
hoặc
nhẹ
hơn
hình
phạt
do
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
lại
bị
coi
là
“
Viện
Tòa
chọi
nhau”
đó
chỉ
là
nhận
thức
của
một
số
người
chưa
nắm
được
nội
dung
Điều
16
BLTTHS
quy
định:“
Khi
xét
xử,
Thẩm
phán
và
Hội
thẩm
độc
lập
và
chỉ
tuân
theo
pháp
luật”.
Mặt
khác
trong
phần
thủ
tục
phiên
tòa
theo
Điều
201
BLTTHS
Vị
chủ
tòa
phiên
tòa
nào
cũng
giải
thích
rất
rõ
quyền
và
nghĩa
vụ
của
những
người
tiến
hành
tố
tụng,
tham
gia
tố
tụng
đặc
biệt
là
thẩm
quyền
của
Hội
đồng
xét
xử
quyết
định
hình
phạt.
Nếu
cho
rằng
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
hội
đồng
xét
xử
áp
dụng
điều
khoản
của
Bộ
luật
hình
sự
cũng
tức
là
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng
khung
hình
phạt
đối
với
bị
cáo.
Nhưng
đó
là
“
khung
hình
phạt”
chứ
không
phải
mức
hình
phạt
từ
mấy
năm
tù
đến
mấy
năm
tù
như
hiện
nay
thì
điều
gì
sẽ
xảy
ra
?
Giả
sử
một
bị
cáo
bị
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
Tỉnh
truy
tố
về
tội
giết
người
theo
điểm
n
khoản
1
Điều
93
BLHS,
hình
phạt
tù
có
các
mức:
Mười
hai
năm,
đến
hai
mười
năm,
tù
chung
thân
hoặc
tử
hình,
hay
trường
hợp
bị
cáo
bị
truy
tố
về
tội
Mua
bán
người
theo
các
điểm
d,e
khoản
2
Điều
119
BLHS
có
khung
hình
phạt
từ
năm
năm
đến
hai
mươi
năm,
trong
phần
luận
tội
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
kết
tội
bị
cáo
theo
toàn
bộ
nội
dung
cáo
trạng,
gặp
trường
hợp
bị
cáo
không
có
điều
kiện
để
áp
dụng
điều
47
BLHS
thì
luật
sư,
bị
cáo
dựa
vào
đâu
để
bào
chữa
cho
rằng
mức
hình
phạt
của
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
là
nghiêm
khắc
còn
bị
hại
hoặc
đại
diện
bị
hại
cho
rằng
mức
hình
phạt
đề
nghị
như
vậy
là
chưa
tương
xứng
với
hành
vi
phạm
tội
?
Ngoài
ra
theo
khoản
3
Điều
51
BLTTHS
quy
định”
Trong
trường
hợp
vụ
án
được
khởi
tố
theo
yêu
cầu
của
người
bị
hại
quy
định
tại
Điều
105
của
Bộ
luật
này
thì
người
bị
hại
hoặc
người
đại
diện
hợp
pháp
của
họ
trình
bày
lời
buộc
tội
tại
phiên
tòa,
trong
thực
tế
Tòa
án
thừa
nhận
lời
buộc
tội
của
họ
gắn
liền
với
quyền
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng
mức
hình
phạt
cụ
thể
với
bị
cáo,
(chế
định
này
mới
ra
đời
từ
BLTTHS
năm
1988)
Cũng
như
các
bị
hại
khác
nếu
không
đồng
ý
với
bản
án
sơ
thẩm,
họ
có
quyền
kháng
cáo
lên
cấp
phúc
thẩm
đề
nghị
tăng
hoặc
giảm
hình
phạt
đối
với
bị
cáo.
Việc
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
mức
hình
phạt
theo
BLTTHS
không
chỉ
giới
hạn
ở
Điều
217
mà
nó
có
thể
thay
đổi,
điều
chỉnh
cho
phù
hợp
với
diễn
biến
thực
tế
tại
phiên
tòa
(
thường
có
lợi
cho
bị
cáo)
ở
các
Điều
218,
219,
223
và
chỉ
kết
thúc
khi
chủ
tọa
phiên
tòa
tuyên
bố
kết
thúc
việc
tranh
luận,
thực
tế
đã
xảy
ra
trường
hợp
trong
Chuyên
án
304H
Phạm
Thị
Đức
là
một
trong
50
bị
can
bị
xét
xử
về
tội
mua
bán
trái
phép
chất
ma
túy
với
hành
vi
trong
2
năm
Đức
đã
nhiều
lần
mua
bán
148
kg
thuốc
phiện,
tại
phiên
tòa
Đức
phủ
nhận
toàn
bộ
lời
khai
trước
đây,
căn
cứ
vào
tính
chất,
hậu
quả,
số
lượng
hàng
phạm
pháp
và
thái
độ
khai
báo
của
bị
cáo,
trong
phần
luận
tội
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng
hình
phạt
tử
hình,
nhưng
hôm
sau
trong
phần
đối
đáp,
cùng
với
sự
tác
động
của
luật
sư,
bị
cáo
lại
thành
khần
khai
báo,
tỏ
ra
ăn
năn
hối
cải
nên
trong
phần
đối
đáp
Kiểm
sát
viên
đã
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
thay
đổi
mức
hình
phạt
bị
cáo
từ
tử
hình
xuống
tù
chung
thân.
Đề
nghị
thay
đổi
mức
án
của
Kiểm
sát
viên
được
dư
luận
đồng
tình,
Hội
đồng
xét
xử
chấp
nhận.
Theo
Điều
19
BLTTHS
quy
định:
Kiểm
sát
viên
với
những
người
tham
gia
tố
tụng
đều
có
quyền
bình
đẳng
trong
việc
đưa
ra
chứng
cứ,
tài
liệu,
đồ
vật,
đưa
ra
yêu
cầu
tranh
luận
dân
chủ
trước
Tòa
án.
Tòa
án
có
trách
nhiệm
tạo
điều
kiện
cho
họ
thực
hiện
các
quyền
đó
nhằm
làm
rõ
sự
thật
khách
quan
của
vụ
án,
trong
nội
dung
tranh
luận,
đối
đáp
có
phần
những
người
tham
gia
tố
tụng
nhất
trí
hay
không
nhất
trí
với
mức
án
mà
Kiểm
sát
viên
vừa
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng.
Trong
quan
hệ
tố
tụng
mức
án
của
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
tại
phiên
tòa
còn
là
một
trong
những
nguồn
để
Viện
kiểm
sát
thực
hiện
quyền
năng
của
mình,
sau
khi
kiểm
tra
toàn
bộ
bản
án
riêng
phần
quyết
định
hình
phạt
tuy
có
khác
với
mức
hình
phạt
của
Kiểm
sát
viên
đề
nghị
nhưng
lại
thấy
bản
án
lập
luận
và
quyết
định
có
căn
cứ
thì
Viện
kiểm
sát
không
kháng
nghị,
ngược
lại
nếu
thấy
“vênh"
nhau
nhưng
quyết
định
về
hình
phạt
không
có
cơ
sở
thì
Viện
kiểm
sát
phải
kháng
nghị,
đề
nghị
cấp
phúc
thẩm
tăng
hay
giảm
các
loại
hình
phạt.
Thậm
chí
với
thái
độ
cầu
thị
cho
dù
án
sơ
thẩm
chấp
nhận
mức
án
đề
nghị
của
mình
nhưng
kiểm
tra
lại
xét
thấy
không
có
căn
cứ
thì
Viên
kiểm
sát
cấp
dưới
chủ
động
báo
cáo
lên
Viện
kiểm
sát
cấp
trên
kháng
nghị.
Theo
số
liệu
thống
kê
từ
năm
2008
đến
năm
2010
các
Tòa
án
nhân
dân
đã
xử
sơ
thẩm
171.766
vụ
án,
trong
đó
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
đã
ban
hành
2.167
quyết
định
kháng
nghị
theo
thủ
tục
phúc
thẩm
do
bản
án
sơ
thẩm
xử
khác
quan
điểm
của
Viện
kiểm
sát
chiếm
tỷ
lệ
khoảng
1,26%,
trong
đó
kháng
nghị
tăng
hình
phạt
chiếm
từ
50-55%,
kháng
nghị
giảm
hình
phạt
chiếm
tỷ
lệ
khoảng
12%,
kháng
nghị
theo
hướng
cho
bị
cáo
hưởng
án
treo
chiếm
tỷ
lệ
vào
khoảng
11%,
còn
lại
là
kháng
nghị
khác
như
sửa
tội
danh,
bồi
thường
thiệt
hại
không
đúng.
(2).
Từ
số
liệu
trên
cho
thấy
số
án
sơ
thẩm
bị
Viện
kiểm
sát
kháng
nghị
phần
áp
dụng
hình
phạt
chiếm
tỷ
lệ
cao
trong
số
các
lý
do
khác.
Mà
cơ
sở
để
kháng
nghị
chủ
yếu
dựa
vào
mức
hình
phạt
cụ
thể
của
của
Kiểm
sát
viên
đã
đề
nghị
với
Hội
đồng
xét
xử
áp
dụng,
còn
khi
xét
xử
phúc
thẩm
ai
cũng
biết
Tòa
án
có
“
toàn
quyền”
chấp
nhận
một
phần,
chấp
nhận
toàn
bộ
hoặc
không
chấp
nhận
kháng
nghị
của
Viện
kiểm
sát.
Mọi
quy
phạm
pháp
luật
đều
xuất
phát
từ
hoạt
động
thực
tiễn
của
con
người.
Nó
được
hình
thành
phát
triển
rồi
quy
định
trong
văn
bản,
nếu
một
thói
quen
nào
đó
trong
cách
xử
sự
nhưng
do
sắp
xếp
của
tổ
chức
được
chuyển
giao
từ
chủ
thể
này
sang
chủ
thể
khác
song
vẫn
được
xã
hội
chấp
nhận
vì
nó
phù
hợp
với
đạo
đức
xã
hội
và
định
hướng
của
pháp
luật
thì
nên
duy
trì
và
hoàn
thiện.
Trong
quá
trình
xây
dựng
pháp
luật
còn
khiếm
khuyết
chưa
quy
định
những
quan
hệ
đang
tồn
tại
lại
có
những
nhận
thức
khác
nhau
thì
nay
cần
quy
định
cho
rõ,
trách
nhiệm
của
những
người
thực
hiện
phải
đề
xuất,
kiến
nghị
với
cơ
quan
có
thẩm
quyền
để
tham
khảo
luật
của
các
nước
nhằm
sửa
đổi
bổ
sung
,điều
chỉnh
cho
hoàn
thiện
nhưng
phải
phù
hợp
với
điều
kiện
hoàn
cảnh
cụ
thể
của
nước
ta.
Vì
vậy,
tôi
đề
nghị
sửa
đổi
theo
hướng:
Sau
khi
kết
thúc
việc
xét
hỏi
tại
phiên
tòa,
Kiểm
sát
viên
trình
bày
luận
tội,
đề
nghị
kết
tội
bị
cáo
theo
toàn
bộ
hay
một
phần
nội
dung
cáo
trạng
hoặc
kết
luận
về
tội
nhẹ
hơn
và
áp
dụng
các
mức
hình
phạt;
Nếu
thấy
không
có
căn
cứ
để
kết
tội
thì
rút
toàn
bộ
quyết
định
truy
tố
và
đề
nghị
Hội
đồng
xét
xư
tuyên
bố
bị
cáo
không
có
tội.
Ghi
chú:
1.Tranh
luận
tại
phiên
tòa
sơ
thẩm
tác
giả
Dương
Thanh
Biểu,
NXB
Tư
pháp
năm
2008
2.Tài
liệu
hội
thảo:
Nâng
cao
chất
lương
thực
hành
quyền
công
tố
và
Kiểm
sát
xét
xử
sơ
thẩm
các
vụ
án
hình
sự,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
Tối
cao
phát
hành
tháng
11/2011.
Lương
Minh
Hạnh