QUỐC
HỘI
CỘNG
HÒA
XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
VIỆT
NAM
Độc
lập
-
Tự
do
-
Hạnh
phúc
Luật
số:
30/2018/QH14
LUẬT
ĐẶC
XÁ
Căn
cứ
Hiến
pháp
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam;
Quốc
hội
ban
hành
Luật
Đặc
xá.
Chương I
NHỮNG
QUY
ĐỊNH
CHUNG
Điều
1.
Phạm
vi
điều
chỉnh
Luật
này
quy
định
về
nguyên
tắc,
thời
điểm,
trình
tự,
thủ
tục,
thẩm
quyền,
trách
nhiệm
thực
hiện
đặc
xá;
điều
kiện,
quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá;
quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
được
đặc
xá.
Điều
2.
Đối
tượng
áp
dụng
1.
Người
bị
kết
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
tù
chung
thân.
2.
Cơ
quan,
tổ
chức,
công
dân
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam;
người
nước
ngoài
cư
trú
ở
Việt
Nam,
tổ
chức
nước
ngoài,
tổ
chức
quốc
tế
hoạt
động
trên
lãnh
thổ
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
có
liên
quan
đến
hoạt
động
đặc
xá.
Điều
3.
Giải
thích
từ
ngữ
Trong
Luật
này,
các
từ
ngữ
dưới
đây
được
hiểu
như
sau:
1.
Đặc
xá
là
sự
khoan
hồng
đặc
biệt
của
Nhà
nước
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
tha
tù
trước
thời
hạn
cho
người
bị
kết
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
tù
chung
thân
nhân
sự
kiện
trọng
đại,
ngày
lễ
lớn
của
đất
nước
hoặc
trong
trường
hợp
đặc
biệt.
2.
Quyết
định
về
đặc
xá
là
văn
bản
do
Chủ
tịch
nước
ban
hành
quy
định
thời
điểm
đặc
xá,
đối
tượng,
điều
kiện
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
nhân
sự
kiện
trọng
đại,
ngày
lễ
lớn
của
đất
nước
và
trách
nhiệm
của
cơ
quan,
tổ
chức
trong
việc
thực
hiện
đặc
xá.
3.
Quyết
định
đặc
xá
là
văn
bản
của
Chủ
tịch
nước
quyết
định
tha
tù
trước
thời
hạn
cho
người
bị
kết
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
tù
chung
thân.
4.
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
là
tổ
chức
liên
ngành
bao
gồm
đại
diện
lãnh
đạo
các
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
thành
lập
để
triển
khai
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá
và
tham
mưu,
tư
vấn
cho
Chủ
tịch
nước
trong
việc
thực
hiện
hoạt
động
đặc
xá.
5.
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
là
tổ
chức
liên
ngành
bao
gồm
đại
diện
các
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
do
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
quyết
định
thành
lập
để
thẩm
định
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá.
Điều
4.
Nguyên
tắc
thực
hiện
đặc
xá
1.
Tuân
thủ
Hiến
pháp,
pháp
luật;
bảo
đảm
lợi
ích
của
Nhà
nước,
quyền
và
lợi
ích
hợp
pháp
của
tổ
chức,
cá
nhân.
2.
Bảo
đảm
dân
chủ,
công
bằng,
khách
quan,
công
khai,
minh
bạch.
3.
Bảo
đảm
yêu
cầu
về
đối
nội,
đối
ngoại,
an
ninh
quốc
gia,
trật
tự,
an
toàn
xã
hội.
Điều
5.
Thời
điểm
đặc
xá
1.
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định
về
đặc
xá
nhân
sự
kiện
trọng
đại,
ngày
lễ
lớn
của
đất
nước.
2.
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt
để
đáp
ứng
yêu
cầu
đối
nội,
đối
ngoại
của
Nhà
nước
mà
không
phụ
thuộc
vào
thời
điểm
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này.
Điều
6.
Chính
sách
của
Nhà
nước
trong
đặc
xá
Nhà
nước
động
viên,
khuyến
khích
người
bị
kết
án
phạt
tù
ăn
năn
hối
cải,
tích
cực
học
tập,
lao
động
cải
tạo
để
được
hưởng
đặc
xá;
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
người
được
đặc
xá
hòa
nhập
cộng
đồng,
ổn
định
cuộc
sống,
phấn
đấu
trở
thành
người
có
ích
cho
xã
hội,
phòng
ngừa
tái
phạm
tội,
vi
phạm
pháp
luật.
Điều
7.
Các
hành
vi
bị
nghiêm
cấm
trong
thực
hiện
đặc
xá
1.
Lợi
dụng,
lạm
dụng
chức
vụ,
quyền
hạn
để
đề
nghị
đặc
xá
cho
người
không
đủ
điều
kiện
được
đặc
xá;
không
đề
nghị
đặc
xá
cho
người
đủ
điều
kiện
được
đặc
xá;
cản
trở
người
bị
kết
án
phạt
tù
thực
hiện
quyền
được
đề
nghị
đặc
xá.
2.
Đưa
hối
lộ,
nhận
hối
lộ,
môi
giới
hối
lộ,
nhũng
nhiễu
trong
việc
thực
hiện
đặc
xá.
3.
Cấp,
xác
nhận
giấy
tờ,
tài
liệu
liên
quan
đến
người
được
đề
nghị
đặc
xá
trái
quy
định
của
pháp
luật.
4.
Từ
chối
cấp,
xác
nhận
giấy
tờ,
tài
liệu
mà
theo
quy
định
của
pháp
luật
người
được
đề
nghị
đặc
xá
phải
được
cấp,
xác
nhận.
5.
Giả
mạo
giấy
tờ,
tài
liệu
liên
quan
đến
người
được
đề
nghị
đặc
xá.
Chương
II
ĐẶC
XÁ
NHÂN
SỰ
KIỆN
TRỌNG
ĐẠI,
NGÀY
LỄ
LỚN
CỦA
ĐẤT
NƯỚC
Mục
1
TRÌNH
TỰ,
THỦ
TỤC
TRÌNH
CHỦ
TỊCH
NƯỚC
BAN
HÀNH,
CÔNG
BỐ
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ
ĐẶC
XÁ;
THÀNH
LẬP
HỘI
ĐỒNG
TƯ
VẤN
ĐẶC
XÁ,
TỔ
THẨM
ĐỊNH
LIÊN
NGÀNH
Điều
8.
Trình
tự,
thủ
tục
trình
Chủ
tịch
nước
ban
hành
Quyết
định
về
đặc
xá
Theo
yêu
cầu
của
Chủ
tịch
nước
hoặc
trong
trường
hợp
Chính
phủ
đề
nghị
đặc
xá
được
Chủ
tịch
nước
chấp
nhận,
Chính
phủ
chủ
trì,
phối
hợp
với
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
các
cơ
quan
có
liên
quan
nghiên
cứu,
xây
dựng
tờ
trình
của
Chính
phủ
và
dự
thảo
Quyết
định
về
đặc
xá.
Tờ
trình
và
dự
thảo
Quyết
định
về
đặc
xá
phải
được
trình
Chủ
tịch
nước
chậm
nhất
là
60
ngày
trước
thời
điểm
đặc
xá
để
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
ban
hành
Quyết
định
về
đặc
xá.
Điều
9.
Công
bố,
thông
báo,
niêm
yết
Quyết
định
về
đặc
xá
1.
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước
chủ
trì,
phối
hợp
với
các
cơ
quan
có
liên
quan
tổ
chức
công
bố
ngay
Quyết
định
về
đặc
xá.
Quyết
định
về
đặc
xá
được
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng.
2.
Sau
khi
được
công
bố,
Quyết
định
về
đặc
xá
được
niêm
yết
tại
trại
giam,
trại
tạm
giam,
nhà
tạm
giữ.
Điều
10.
Thành
lập
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá,
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
1.
Khi
có
Quyết
định
về
đặc
xá,
Chủ
tịch
nước
quyết
định
thành
lập
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
bao
gồm
Chủ
tịch
là
Phó
Thủ
tướng
Chính
phủ
và
các
ủy
viên
là
đại
diện
lãnh
đạo
các
cơ
quan,
tổ
chức
sau
đây:
a)
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao;
b)
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao;
c)
Ủy
ban
Trung
ương
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam;
d)
Bộ
Công
an;
đ)
Bộ
Quốc
phòng;
e)
Bộ
Tư
pháp;
g)
Bộ
Ngoại
giao;
h)
Văn
phòng
Chính
phủ;
i)
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước;
k)
Cơ
quan,
tổ
chức
khác
có
liên
quan
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
khi
thấy
cần
thiết.
2.
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
là
Bộ
Công
an.
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
giúp
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
thực
hiện
trách
nhiệm
quy
định
tại
Điều
35
của
Luật
này.
3.
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
do
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
quyết
định
thành
lập,
bao
gồm
đại
diện
các
cơ
quan,
tổ
chức
sau
đây:
a)
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao;
b)
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao;
c)
Ủy
ban
Trung
ương
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam;
d)
Bộ
Công
an;
đ)
Bộ
Quốc
phòng;
e)
Bộ
Tư
pháp;
g)
Cơ
quan,
tổ
chức
khác
có
liên
quan
do
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
quyết
định
khi
thấy
cần
thiết.
Mục
2
ĐIỀU
KIỆN,
QUYỀN
VÀ
NGHĨA
VỤ
CỦA
NGƯỜI
ĐƯỢC
ĐỀ
NGHỊ
ĐẶC
XÁ
Điều
11.
Điều
kiện
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
1.
Người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
người
bị
kết
án
phạt
tù
chung
thân
nhưng
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn
được
đề
nghị
đặc
xá
phải
có
đủ
các
điều
kiện
sau
đây:
a)
Có
nhiều
tiến
bộ,
có
ý
thức
cải
tạo
tốt
và
được
xếp
loại
chấp
hành
án
phạt
tù
khá
hoặc
tốt
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
thi
hành
án
hình
sự;
b)
Đã
chấp
hành
án
phạt
tù
được
một
thời
gian
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
nhưng
ít
nhất
là
một
phần
ba
thời
gian
đối
với
trường
hợp
bị
phạt
tù
có
thời
hạn,
nếu
trước
đó
đã
được
giảm
thời
hạn
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
thời
hạn
được
giảm
không
được
tính
vào
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù;
đã
chấp
hành
án
phạt
tù
ít
nhất
là
14
năm
đối
với
trường
hợp
bị
phạt
tù
chung
thân
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn,
nếu
sau
khi
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn
mà
tiếp
tục
được
giảm
thời
hạn
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
thời
hạn
được
giảm
sau
đó
không
được
tính
vào
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù.
Người
bị
kết
án
về
tội
phá
hoại
việc
thực
hiện
các
chính
sách
kinh
tế
-
xã
hội;
tội
phá
hoại
chính
sách
đoàn
kết;
tội
tổ
chức,
cưỡng
ép,
xúi
giục
người
khác
trốn
đi
nước
ngoài
hoặc
trốn
ở
lại
nước
ngoài
nhằm
chống
chính
quyền
nhân
dân;
tội
trốn
đi
nước
ngoài
hoặc
trốn
ở
lại
nước
ngoài
nhằm
chống
chính
quyền
nhân
dân;
người
bị
kết
án
từ
10
năm
tù
trở lên
về
một
trong
các
tội
quy
định
tại
Chương
các
tội
xâm
phạm
tính
mạng,
sức
khỏe,
nhân
phẩm,
danh
dự
của
con
người
của
Bộ
luật
Hình
sự
do
cố
ý
hoặc
người
bị
kết
án
từ
07
năm
tù
trở
lên
về
tội
cướp
tài
sản;
tội
bắt
cóc
nhằm
chiếm
đoạt
tài
sản;
tội
sản
xuất
trái
phép
chất
ma
túy;
tội
mua
bán
trái
phép
chất
ma
túy;
tội
chiếm
đoạt
chất
ma
túy
của
Bộ
luật
Hình
sự
đã
chấp
hành
án
phạt
tù
được
một
thời
gian
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
nhưng
ít
nhất
là
một
phần
hai
thời
gian
đối
với
trường
hợp
bị
kết
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
nếu
trước
đó
đã
được
giảm
thời
hạn
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
thời
hạn
được
giảm
không
được
tính
vào
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù;
đã
chấp
hành
án
phạt
tù
ít
nhất
là
17
năm
đối
với
trường
hợp
bị
phạt
tù
chung
thân
nhưng
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn,
nếu
sau
khi
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn
mà
tiếp
tục
được
giảm
thời
hạn
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
thời
hạn
được
giảm
sau
đó
không
được
tính
vào
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù;
c)
Đã
chấp
hành
xong
hình
phạt
bổ
sung
là
phạt
tiền,
đã
nộp
án
phí;
d)
Đã
thi
hành
xong
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại,
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
đối
với
người
bị
kết
án
phạt
tù
về
các
tội
phạm
tham
nhũng
hoặc
tội
phạm
khác
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định
trong
mỗi
lần
đặc
xá;
đ)
Đã
thi
hành
xong
hoặc
thi
hành
được
một
phần
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại,
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
nhưng
do
lâm
vào
hoàn
cảnh
kinh
tế
đặc
biệt
khó
khăn
thuộc
trường
hợp
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
tiếp
phần
còn
lại
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
thi
hành
án
dân
sự
đối
với
người
bị
kết
án
phạt
tù
không
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
d
khoản
này.
Trường
hợp
phải
thi
hành
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại,
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
đối
với
tài
sản
không
thuộc
sở
hữu
của
Nhà
nước
thì
phải
được
người
được
thi
hành
án
đồng
ý
hoãn
thi
hành
án
hoặc
không
yêu
cầu
thi
hành
án
đối
với
tài
sản
này;
e)
Khi
được
đặc
xá
không
làm
ảnh
hưởng
xấu
đến
an
ninh,
trật
tự;
g)
Không
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
quy
định
tại
Điều
12
của
Luật
này.
2.
Người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
được
đề
nghị
đặc
xá
phải
có
đủ
các
điều
kiện
sau
đây:
a)
Có
nhiều
tiến
bộ,
có
ý
thức
cải
tạo
tốt
và
được
xếp
loại
chấp
hành
án
phạt
tù
khá
hoặc
tốt
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
thi
hành
án
hình
sự
trong
thời
gian
chấp
hành
án
phạt
tù
trước
khi
có
quyết
định
tạm
đình
chỉ;
b)
Đã
có
thời
gian
chấp
hành
án
phạt
tù
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
này;
c)
Các
điều
kiện
quy
định
tại
các
điểm
c,
d,
đ,
e
và
g
khoản
1
Điều
này;
d)
Chấp
hành
nghiêm
chỉnh
pháp
luật
trong
thời
gian
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù.
3.
Người
có
đủ
các
điều
kiện
quy
định
tại
các
điểm
a,
c,
d,
đ,
e
và
g
khoản
1,
các
điểm
a,
c
và
d
khoản
2
Điều
này
được
Chủ
tịch
nước
quyết
định
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù
ngắn
hơn
so
với
thời
gian
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
này
khi
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
sau
đây:
a)
Đã
lập
công
lớn
trong
thời
gian
chấp
hành
án
phạt
tù,
có
xác
nhận
của
trại
giam,
trại
tạm
giam,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
hoặc
cơ
quan
có
thẩm
quyền
khác;
b)
Người
có
công
với
cách
mạng
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
ưu
đãi
người
có
công
với
cách
mạng;
người
được
tặng
thưởng
danh
hiệu
Dũng
sĩ
trong
kháng
chiến
chống
Mỹ
cứu
nước;
người
được
tặng
thưởng
danh
hiệu
“Anh
hùng
Lao
động”;
người
được
tặng
thưởng
một
trong
các
loại
Huân
chương,
Huy
chương
Kháng
chiến;
cha,
mẹ,
vợ,
chồng,
con
của
liệt
sĩ
và
người
có
công
nuôi
dưỡng
liệt
sĩ
khi
còn
nhỏ;
con
của
Bà
mẹ
Việt
Nam
anh
hùng;
cha,
mẹ,
vợ,
chồng,
con
của
người
có
công
giúp
đỡ
cách
mạng
được
tặng
Kỷ
niệm
chương
“Tổ
quốc
ghi
công”
hoặc
Bằng
“Có
công
với
nước”;
c)
Người
đang
mắc
bệnh
hiểm
nghèo,
người
đang
ốm
đau
thường
xuyên
mà
không
tự
phục
vụ
bản
thân;
d)
Khi
phạm
tội
là
người
dưới
18
tuổi,
trừ
trường
hợp
quy
định
tại
khoản
4
Điều
này;
đ)
Người
từ
đủ
70
tuổi
trở
lên;
e)
Có
hoàn
cảnh
gia
đình
đặc
biệt
khó
khăn
và
bản
thân
là
lao
động
duy
nhất
trong
gia
đình;
g)
Phụ
nữ
có
thai
hoặc
có
con
dưới
36
tháng
tuổi
đang
ở
với
mẹ
trong
trại
giam,
trại
tạm
giam,
nhà
tạm
giữ;
h)
Người
khuyết
tật
nặng
hoặc
khuyết
tật
đặc
biệt
nặng
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
người
khuyết
tật;
người
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
dân
sự;
i)
Trường
hợp
khác
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định.
4.
Người
dưới
18
tuổi
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
có
đủ
điều
kiện
quy
định
tại
điểm
a
và
điểm
g
khoản
1
Điều
này
hoặc
người
dưới
18
tuổi
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
có
đủ
điều
kiện
quy
định
tại
điểm
g
khoản
1,
điểm
a
và
điểm
d
khoản
2
Điều
này
được
Chủ
tịch
nước
quyết
định
thời
gian
đã
chấp
hành
án
phạt
tù
ngắn
hơn
so
với
thời
gian
quy
định
tại
điểm
b
khoản
1
Điều
này.
5.
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
Điều
này.
Điều
12.
Các
trường
hợp
không
được
đề
nghị
đặc
xá
Người
có
đủ
điều
kiện
quy
định
tại
Điều
11
của
Luật
này
không
được
đề
nghị
đặc
xá
khi
thuộc
một
trong
các
trường
hợp
sau
đây:
1.
Bị
kết
án
phạt
tù
về
tội
phản
bội
Tổ
quốc;
tội
hoạt
động
nhằm
lật
đổ
chính
quyền
nhân
dân;
tội
gián
điệp;
tội
xâm
phạm
an
ninh
lãnh
thổ;
tội
bạo
loạn;
tội
khủng
bố
nhằm
chống
chính
quyền
nhân
dân;
tội
phá
hoại
cơ
sở
vật
chất
-
kỹ
thuật
của
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam;
tội
làm,
tàng
trữ,
phát
tán
hoặc
tuyên
truyền
thông
tin,
tài
liệu,
vật
phẩm
nhằm
chống
Nhà
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam;
tội
phá
rối
an
ninh;
tội
chống
phá
cơ
sở
giam
giữ;
tội
khủng
bố
hoặc
một
trong
các
tội
quy
định
tại
Chương
các
tội
phá
hoại
hòa
bình,
chống
loài
người
và
tội
phạm
chiến
tranh
của
Bộ
luật
Hình
sự.
2.
Bản
án,
phần
bản
án
hoặc
quyết
định
của
Tòa
án
đối
với
người
đó
đang
bị
kháng
nghị
theo
thủ
tục
giám
đốc
thẩm,
tái
thẩm
theo
hướng
tăng
nặng
trách
nhiệm
hình
sự.
3.
Đang
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
về
hành
vi
phạm
tội
khác.
4.
Trước
đó
đã
được
đặc
xá.
5.
Có
từ
02
tiền
án
trở
lên.
6.
Trường
hợp
khác
do
Chủ
tịch
nước
quyết
định.
Điều
13.
Quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
1.
Được
phổ
biến
chính
sách,
pháp
luật
về
đặc
xá;
thông
báo
Quyết
định
về
đặc
xá,
văn
bản
hướng
dẫn
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
về
điều
kiện
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
và
thông
tin
khác
về
đặc
xá
liên
quan
đến
người
được
đề
nghị
đặc
xá.
2.
Liên
hệ
với
thân
nhân
để
thu
thập
giấy
tờ,
tài
liệu
cần
thiết
cho
việc
hoàn
thiện
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá.
3.
Đề
nghị
cơ
quan,
tổ
chức,
cá
nhân
có
thẩm
quyền
cấp,
xác
nhận
giấy
tờ,
tài
liệu
cần
thiết
cho
việc
hoàn
thiện
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá.
4.
Cung
cấp
giấy
tờ,
tài
liệu
theo
yêu
cầu
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền
đề
nghị
đặc
xá;
khai
báo
đầy
đủ,
trung
thực
thông
tin
về
cá
nhân
liên
quan
đến
việc
đề
nghị
đặc
xá.
5.
Khiếu
nại,
tố
cáo
theo
quy
định
tại
Chương
V
của
Luật
này.
Mục
3
TRÌNH
TỰ,
THỦ
TỤC
ĐỀ
NGHỊ
ĐẶC
XÁ,
THỰC
HIỆN
QUYẾT
ĐỊNH
ĐẶC
XÁ
Điều
14.
Hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
1.
Đơn
đề
nghị
đặc
xá.
2.
Tài
liệu
chứng
minh
về
cá
nhân,
hoàn
cảnh
gia
đình
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá.
3.
Tài
liệu
chứng
minh
đã
chấp
hành
xong
hình
phạt
bổ
sung
là
phạt
tiền,
đã
nộp
án
phí.
Trường
hợp
được
miễn
chấp
hành
hình
phạt
tiền,
miễn
nộp
án
phí
phải
có
quyết
định
của
Tòa
án
có
thẩm
quyền.
Người
bị
kết
án
phạt
tù
về
các
tội
phạm
quy
định
tại
điểm
d
khoản
1
Điều
11
của
Luật
này
phải
có
tài
liệu
chứng
minh
đã
thi
hành
xong
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại,
nghĩa
vụ
dân
sự
khác.
Người
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
đ
khoản
1
Điều
11
của
Luật
này
phải
có
tài
liệu
chứng
minh
đã
thi
hành
xong
hoặc
có
tài
liệu
chứng
minh
đã
thi
hành
được
một
phần
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại
hoặc
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
và
có
quyết
định
của
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
có
thẩm
quyền
về
việc
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án.
Trường
hợp
người
được
thi
hành
án
đồng
ý
hoãn
thi
hành
án
hoặc
không
yêu
cầu
thi
hành
án
đối
với
tài
sản
không
thuộc
sở
hữu
của
Nhà
nước
thì
phải
có
văn
bản
của
người
được
thi
hành
án
có
xác
nhận
của
cơ
quan
có
thẩm
quyền.
Người
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
c
khoản
3
Điều
11
của
Luật
này
phải
có
kết
luận
của
Hội
đồng
giám
định
y
khoa,
Bệnh
viện
cấp
tỉnh
hoặc
cấp
quân
khu
trở
lên.
Người
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
e
khoản
3
Điều
11
của
Luật
này
phải
có
xác
nhận
của
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
nơi
gia
đình
người
đó
cư
trú.
Người
thuộc
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
h
khoản
3
Điều
11
của
Luật
này
phải
có
Giấy
xác
nhận
khuyết
tật
của
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
nơi
người
khuyết
tật
cư
trú;
quyết
định
của
Tòa
án
có
thẩm
quyền
tuyên
bố
có
khó
khăn
trong
nhận
thức,
làm
chủ
hành
vi.
4.
Bản
cam
kết
không
vi
phạm
pháp
luật,
chấp
hành
đầy
đủ
hình
phạt
bổ
sung
không
phải
là
hình
phạt
tiền,
nghĩa
vụ
trả
lại
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại,
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
sau
khi
được
đặc
xá.
5.
Văn
bản
đề
nghị
đặc
xá
của
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu.
Trường
hợp
người
được
đề
nghị
đặc
xá
là
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
phải
có
văn
bản
đề
nghị
đặc
xá
của
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
và
văn
bản
nhận
xét
của
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã,
đơn
vị
quân
đội
được
giao
quản
lý
người
đó
về
việc
chấp
hành
nghiêm
chỉnh
pháp
luật
trong
thời
gian
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù.
Điều
15.
Trình
tự,
thủ
tục
lập
hồ
sơ,
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
1.
Ngay
sau
khi
Quyết
định
về
đặc
xá
được
công
bố,
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng,
trại
giam,
trại
tạm
giam,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
phải
niêm
yết,
phổ
biến
cho
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
biết.
Trong
thời
hạn
05
ngày
kể
từ
ngày
Quyết
định
về
đặc
xá
được
niêm
yết,
phổ
biến,
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
tù
chung
thân
nhưng
đã
được
giảm
xuống
tù
có
thời
hạn
căn
cứ
vào
quy
định
tại
Điều
11
và
Điều
12
của
Luật
này
làm
đơn
đề
nghị
đặc
xá.
2.
Trong
thời
hạn
10
ngày
kể
từ
ngày
Quyết
định
về
đặc
xá
được
niêm
yết,
phổ
biến,
việc
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
thực
hiện
như
sau:
a)
Giám
thị
trại
giam
thuộc
Bộ
Công
an
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành;
b)
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
báo
cáo
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
trực
tiếp
để
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành;
c)
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
báo
cáo
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh
để
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành;
d)
Người
bị
kết
án
phạt
tù
đang
chấp
hành
án
tại
trại
giam,
trại
tạm
giam,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
bị
trích
xuất
để
phục
vụ
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
nhưng
không
bị
truy
cứu
trách
nhiệm
hình
sự
về
hành
vi
phạm
tội
khác,
nếu
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
thì
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
hoặc
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
đang
quản
lý
hồ
sơ
gốc
của
người
đó
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá.
Giám
thị
trại
tạm
giam,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện
nhận
người
bị
trích
xuất
nhưng
không
quản
lý
hồ
sơ
gốc
có
trách
nhiệm
phối
hợp
với
cơ
quan
đang
quản
lý
hồ
sơ
gốc
của
người
đó
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá;
đ)
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Quốc
phòng
hoặc
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
báo
cáo
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
thi
hành
án
hình
sự
Bộ
Quốc
phòng
để
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành.
3.
Trong
thời
hạn
15
ngày
kể
từ
ngày
Quyết
định
về
đặc
xá
được
công
bố,
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
đã
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
có
trách
nhiệm
thông
báo
Quyết
định
về
đặc
xá
cho
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù,
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành.
Trường
hợp
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
cư
trú
ở
địa
phương
ngoài
phạm
vi
địa
giới
hành
chính
của
Tòa
án
đã
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
thì
Tòa
án
đã
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
thông
báo
cho
Tòa
án
nhân
dân
cấp
huyện,
Tòa
án
quân
sự
khu
vực
nơi
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
cư
trú
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá,
chuyển
đến
Tòa
án
đã
ra
quyết
định
tạm
đình
chỉ
để
tổng
hợp,
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành.
4.
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh
và
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
có
trách
nhiệm
thông
báo,
niêm
yết
công
khai
danh
sách
người
được
đề
nghị
đặc
xá.
5.
Giám
thị
trại
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
trực
tiếp
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
thông
báo
bằng
văn
bản
cho
Viện
kiểm
sát
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
Điều
30
của
Luật
này
về
kết
quả
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
để
kiểm
sát
trước
khi
gửi
Tổ
thẩm
định
liên
ngành.
6.
Giám
thị
trại
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
trực
tiếp
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
thi
hành
án
hình
sự
Bộ
Quốc
phòng,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
căn
cứ
kết
quả
thẩm
định
của
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
lập
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
và
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
không
đủ
điều
kiện
đề
nghị
đặc
xá
gửi
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá.
7.
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
trong
phạm
vi
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
mình,
hướng
dẫn
thực
hiện
Điều
này.
Điều
16.
Thẩm
định
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
1.
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
thẩm
định
danh
sách,
hồ
sơ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
trong
thời
hạn
15
ngày
kể
từ
ngày
người
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
khoản
2
và
khoản
3
Điều
15
của
Luật
này
gửi
danh
sách,
hồ
sơ
cho
Tổ
thẩm
định
liên
ngành.
2.
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
tổng
hợp
kết
quả
thẩm
định,
lập
biên
bản
thẩm
định
kèm
theo
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
danh
sách
người
không
đủ
điều
kiện
đề
nghị
đặc
xá,
gửi
cho
người
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
khoản
2
và
khoản
3
Điều
15
của
Luật
này
để
hoàn
thiện
danh
sách,
hồ
sơ
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
theo
kết
quả
thẩm
định
và
chuyển
đến
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
hoặc
báo
cáo
cơ
quan
có
thẩm
quyền
chuyển
đến
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
theo
quy
định
tại
khoản
6
Điều
15
của
Luật
này.
Điều
17.
Thẩm
tra,
duyệt,
kiểm
tra
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
và
trình
Chủ
tịch
nước
danh
sách
đề
nghị
đặc
xá
1.
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
tập
hợp
danh
sách,
hồ
sơ
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
người
không
đủ
điều
kiện
đề
nghị
đặc
xá
do
người
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
khoản
6
Điều
15
của
Luật
này
lập
theo
kết
quả
thẩm
định
của
Tổ
thẩm
định
liên
ngành
và
chuyển
danh
sách
kèm
theo
văn
bản
đề
nghị
đặc
xá
đến
các
ủy
viên
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
để
thẩm
tra.
2.
Ủy
viên
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
nghiên
cứu,
thẩm
tra
danh
sách,
văn
bản
đề
nghị
đặc
xá;
trường
hợp
cần
thiết
có
thể
yêu
cầu
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
giải
trình,
gửi
hồ
sơ,
cung
cấp
tài
liệu
bổ
sung.
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
có
trách
nhiệm
tổng
hợp
ý
kiến
của
ủy
viên
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá,
trình
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
xem
xét,
quyết
định.
3.
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
tổ
chức
duyệt
danh
sách,
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
do
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
trình;
tổng
hợp
và
lập
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
để
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định.
4.
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước
rà
soát,
kiểm
tra
danh
sách,
hồ
sơ
những
người
được
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
đề
nghị,
trình
Chủ
tịch
nước
quyết
định.
Điều
18.
Thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
1.
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước
chủ
trì,
phối
hợp
với
các
cơ
quan
có
liên
quan
tổ
chức
công
bố
Quyết
định
đặc
xá.
Quyết
định
đặc
xá
được
thông
báo
trên
phương
tiện
thông
tin
đại
chúng.
Quyết
định
đặc
xá
và
danh
sách
người
được
đặc
xá
được
niêm
yết
tại
trại
giam,
trại
tạm
giam,
nhà
tạm
giữ
nơi
người
được
đặc
xá
đang
chấp
hành
án
và
thông
báo
bằng
văn
bản
đến
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã,
đơn
vị
quân
đội
nơi
người
đó
về
cư
trú,
làm
việc;
trường
hợp
người
được
đặc
xá
là
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
thì
thông
báo
bằng
văn
bản
đến
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
nơi
người
đó
cư
trú
hoặc
đơn
vị
quân
đội
được
giao
quản
lý
người
đó.
2.
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
tổ
chức
công
bố
và
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
đối
với
người
được
đặc
xá.
3.
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng;
Giám
thị
trại
giam
thuộc
quân
khu
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
cho
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
tại
trại
giam,
trại
tạm
giam
được
đặc
xá.
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
cho
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
tại
trại
tạm
giam
Công
an
cấp
tỉnh,
nhà
tạm
giữ
Công
an
cấp
huyện
được
đặc
xá.
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
cho
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
tại
trại
tạm
giam
cấp
quân
khu
được
đặc
xá.
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
cho
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
được
đặc
xá.
4.
Người
đã
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
có
trách
nhiệm
gửi
bản
sao
giấy
chứng
nhận
đó
đến
Trung
tâm
lý
lịch
tư
pháp
quốc
gia,
Tòa
án
đã
ra
quyết
định
thi
hành
án,
cơ
quan
chịu
trách
nhiệm
thi
hành
các
hình
phạt
bổ
sung,
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
đã
ra
quyết
định
chưa
có
điều
kiện
thi
hành
án,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
huyện,
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã,
tổ
chức,
đơn
vị
quân
đội
nơi
người
được
đặc
xá
về
cư
trú,
làm
việc,
cơ
quan
nhận
người
bị
trích
xuất.
Trường
hợp
không
xác
định
được
nơi
người
được
đặc
xá
về
cư
trú
thì
cơ
quan
đã
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
có
trách
nhiệm
liên
hệ
với
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
hoặc
tổ
chức,
đơn
vị
quân
đội
để
tiếp
nhận
người
được
đặc
xá
và
gửi
bản
sao
giấy
chứng
nhận
đến
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
nơi
người
đó
sẽ
về
cư
trú
hoặc
cơ
quan,
tổ
chức,
đơn
vị
quân
đội
nơi
người
đó
về
làm
việc.
Điều
19.
Thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
đối
với
người
nước
ngoài
1.
Khi
có
Quyết
định
đặc
xá
đối
với
người
nước
ngoài,
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng
chủ
trì
phối
hợp
với
Bộ
Ngoại
giao
thông
báo
cho
cơ
quan
đại
diện
ngoại
giao,
cơ
quan
lãnh
sự
của
nước
mà
người
được
đặc
xá
là
công
dân
biết
và
đề
nghị
phối
hợp
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá.
2.
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
Điều
này.
Điều
20.
Quyền
và
nghĩa
vụ
của
người
được
đặc
xá
1.
Người
được
đặc
xá
có
quyền
sau
đây:
a)
Được
cấp
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá;
b)
Được
chính
quyền
địa
phương,
cơ
quan,
tổ
chức,
đơn
vị
có
liên
quan
giúp
đỡ
để
hòa
nhập
với
gia
đình
và
cộng
đồng,
tạo
điều
kiện
về
việc
làm,
ổn
định
cuộc
sống;
c)
Được
hưởng
các
quyền
khác
như
người
đã
chấp
hành
xong
án
phạt
tù
theo
quy
định
của
pháp
luật.
2.
Người
được
đặc
xá
có
nghĩa
vụ
sau
đây:
a)
Xuất
trình
Giấy
chứng
nhận
đặc
xá
với
Ủy
ban
nhân
dân
cấp
xã
hoặc
tổ
chức,
đơn
vị
quân
đội
nơi
người
đó
về
cư
trú
hoặc
làm
việc;
b)
Thực
hiện
đầy
đủ
các
nghĩa
vụ
đã
cam
kết;
c)
Nghiêm
chỉnh
chấp
hành
pháp
luật.
3.
Người
được
đặc
xá
là
người
nước
ngoài
có
các
quyền
quy
định
tại
điểm
a
và
điểm
c
khoản
1
Điều
này,
phải
thực
hiện
các
nghĩa
vụ
quy
định
tại
điểm
b
và
điểm
c
khoản
2
Điều
này.
Điều
21.
Quy
định
chi
tiết,
hướng
dẫn
về
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
trình
tự,
thủ
tục
lập
danh
sách,
thẩm
định,
thẩm
tra
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
1.
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
về
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
trình
tự,
thủ
tục
lập
danh
sách,
thẩm
định,
thẩm
tra
danh
sách,
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
và
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá.
2.
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan,
trong
phạm
vi
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
mình,
hướng
dẫn,
phối
hợp
thực
hiện
việc
lập
danh
sách,
xét
duyệt
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá.
Chương
III
ĐẶC
XÁ
TRONG
TRƯỜNG
HỢP
ĐẶC
BIỆT
Điều
22.
Người
được
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt
Trong
trường
hợp
đặc
biệt
để
đáp
ứng
yêu
cầu
về
đối
nội,
đối
ngoại
của
Nhà
nước,
Chủ
tịch
nước
quyết
định
đặc
xá
cho
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
người
đang
được
hoãn
chấp
hành
án
phạt
tù,
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù,
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
chung
thân
mà
không
phụ
thuộc
vào
các
điều
kiện
quy
định
tại
Điều
11
và
Điều
12
của
Luật
này.
Điều
23.
Trình
tự,
thủ
tục
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt
1.
Theo
yêu
cầu
của
Chủ
tịch
nước
hoặc
trong
trường
hợp
Chính
phủ
đề
nghị
đặc
xá
được
Chủ
tịch
nước
chấp
nhận,
Chính
phủ
chủ
trì,
phối
hợp
với
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
các
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định.
2.
Bộ
Công
an
chịu
trách
nhiệm
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
của
người
đang
chấp
hành
án
phạt
tù
có
thời
hạn,
tù
chung
thân
báo
cáo
Chính
phủ
để
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định.
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
chịu
trách
nhiệm
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá
của
người
đang
được
hoãn
chấp
hành
án
phạt
tù,
người
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
án
phạt
tù
gửi
Chính
phủ
để
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định.
3.
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước
rà
soát,
kiểm
tra
hồ
sơ
của
người
được
đề
nghị
đặc
xá
trình
Chủ
tịch
nước
quyết
định.
Điều
24.
Thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt
1.
Chính
phủ,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
trong
phạm
vi
nhiệm
vụ,
quyền
hạn
của
mình,
có
trách
nhiệm
tổ
chức
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt.
2.
Việc
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
đối
với
người
nước
ngoài
trong
trường
hợp
đặc
biệt
được
áp
dụng
theo
quy
định
tại
Điều
19
của
Luật
này.
3.
Người
được
đặc
xá
trong
trường
hợp
đặc
biệt
có
các
quyền
và
nghĩa
vụ
quy
định
tại
Điều
20
của
Luật
này.
Chương
IV
TRÁCH
NHIỆM
CỦA
CƠ
QUAN,
TỔ
CHỨC
TRONG
VIỆC
THỰC
HIỆN
ĐẶC
XÁ
Điều
25.
Trách
nhiệm
của
Chính
phủ
1.
Đề
nghị
Chủ
tịch
nước
đặc
xá
nhân
sự
kiện
trọng
đại,
ngày
lễ
lớn
của
đất
nước
và
trong
trường
hợp
đặc
biệt.
2.
Chỉ
đạo
việc
tổ
chức
tuyên
truyền,
phổ
biến
về
ý
nghĩa,
mục
đích
và
nội
dung
của
hoạt
động
đặc
xá.
3.
Chỉ
đạo
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
các
cơ
quan
khác
của
Chính
phủ
và
Ủy
ban
nhân
dân
các
cấp
thực
hiện
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
Điều
26.
Trách
nhiệm
của
Văn
phòng
Chủ
tịch
nước
1.
Rà
soát,
kiểm
tra
danh
sách,
hồ
sơ
những
người
được
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
hoặc
Chính
phủ
đề
nghị,
trình
Chủ
tịch
nước
quyết
định.
2.
Chủ
trì,
phối
hợp
với
các
cơ
quan
có
liên
quan
tổ
chức
công
bố
Quyết
định
về
đặc
xá,
Quyết
định
đặc
xá.
3.
Thực
hiện
nhiệm
vụ
khác
về
đặc
xá
được
Chủ
tịch
nước
giao.
Điều
27.
Trách
nhiệm
của
Bộ
Công
an
1.
Chủ
trì
phối
hợp
với
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
Ủy
ban
Trung
ương
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam,
Bộ
Tư
pháp
và
các
cơ
quan
có
liên
quan
kiểm
tra
hoạt
động
đặc
xá
tại
các
trại
giam,
trại
tạm
giam,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
cấp
huyện.
2.
Hướng
dẫn,
kiểm
tra,
đôn
đốc
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an
và
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh
thực
hiện
việc
lập
danh
sách,
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
tổ
chức
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá,
Quyết
định
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
3.
Chỉ
đạo
công
an
các
cấp
phối
hợp
với
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
trong
việc
quản
lý,
giáo
dục
và
giúp
đỡ
người
được
đặc
xá
trở
về
địa
phương,
hòa
nhập
cộng
đồng,
ổn
định
cuộc
sống
và
phòng
ngừa
tái
phạm
tội,
vi
phạm
pháp
luật.
Điều
28.
Trách
nhiệm
của
Bộ
Quốc
phòng
Hướng
dẫn,
kiểm
tra,
đôn
đốc
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Quốc
phòng,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu
thực
hiện
việc
lập
danh
sách,
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
tổ
chức
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá,
Quyết
định
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
Điều
29.
Trách
nhiệm
của
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
1.
Phối
hợp
với
Chính
phủ,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
Ủy
ban
Trung
ương
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam,
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Bộ
Tư
pháp
và
các
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
trong
hoạt
động
đặc
xá.
2.
Hướng
dẫn,
kiểm
tra,
đôn
đốc
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Tòa
án
nhân
dân
cấp
huyện,
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu,
Tòa
án
quân
sự
khu
vực
lập
danh
sách,
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
tổ
chức
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá,
Quyết
định
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
Điều
30.
Trách
nhiệm
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
1.
Trực
tiếp
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
tại
trại
giam,
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng
quy
định
tại
khoản
1,
các
điểm
a,
b,
d
và
đ
khoản
2,
khoản
4
Điều
15
và
Điều
18
của
Luật
này.
Khi
xét
thấy
cần
thiết,
trực
tiếp
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
tại
trại
tạm
giam
thuộc
Công
an
cấp
tỉnh,
trại
tạm
giam
cấp
quân
khu,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
thuộc
thẩm
quyền
kiểm
sát
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
cấp
quân
khu
quy
định
tại
khoản
2
Điều
này.
2.
Hướng
dẫn,
kiểm
tra,
đôn
đốc
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
cấp
quân
khu
thực
hiện
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
tại
trại
tạm
giam
thuộc
Công
an
cấp
tỉnh,
trại
tạm
giam
cấp
quân
khu,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
quy
định
tại
khoản
1,
các
điểm
c,
d
và
đ
khoản
2,
khoản
3
và
khoản
4
Điều
15
và
Điều
18
của
Luật
này.
3.
Thực
hiện,
hướng
dẫn
việc
thực
hiện
quyền
yêu
cầu,
kiến
nghị
khi
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá;
kiểm
sát
việc
giải
quyết
khiếu
nại
theo
quy
định
tại
Điều
37
của
Luật
này.
Điều
31.
Trách
nhiệm
của
Bộ
Tư
pháp
1.
Chỉ
đạo
cơ
quan
thi
hành
án
dân
sự
phối
hợp
với
trại
giam,
trại
tạm
giam,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
cấp
huyện,
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu,
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Tòa
án
nhân
dân
cấp
huyện,
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu,
Tòa
án
quân
sự
khu
vực,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
cấp
huyện,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
cấp
quân
khu,
Viện
kiểm
sát
quân
sự
khu
vực
trong
việc:
a)
Cung
cấp
thông
tin,
giấy
tờ
có
liên
quan
đến
nghĩa
vụ
thi
hành
phần
dân
sự
trong
bản
án,
quyết
định
hình
sự
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá;
b)
Nhận,
chuyển
giao
giấy
tờ,
tiền,
tài
sản
mà
người
phải
thi
hành
hình
phạt
tiền,
tịch
thu
tài
sản,
bồi
thường
thiệt
hại
và
các
nghĩa
vụ
dân
sự
khác
đã
nộp.
2.
Phối
hợp
với
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao,
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao,
Ủy
ban
Trung
ương
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam,
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng
và
các
cơ
quan,
tổ
chức
khác
thực
hiện
các
hoạt
động
khác
liên
quan
đến
công
tác
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
Điều
32.
Trách
nhiệm
của
Bộ
Ngoại
giao
1.
Đề
xuất
Chính
phủ
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định
đặc
xá
cho
đối
tượng
quy
định
tại
Điều
22
của
Luật
này
là
người
nước
ngoài
theo
quy
định
tại
Điều
23
của
Luật
này.
2.
Phối
hợp
với
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng
và
các
Bộ,
ngành
có
liên
quan
thực
hiện
tuyên
truyền
đối
ngoại
về
công
tác
đặc
xá;
phối
hợp
thực
hiện
Quyết
định
đặc
xá
đối
với
người
được
đặc
xá
là
người
nước
ngoài
và
thực
hiện
các
hoạt
động
khác
liên
quan
đến
công
tác
đặc
xá
theo
quy
định
của
Luật
này.
Điều
33.
Trách
nhiệm
của
Ủy
ban
nhân
dân
các
cấp,
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
1.
Tuyên
truyền,
phổ
biến,
giáo
dục
pháp
luật
về
đặc
xá,
Quyết
định
về
đặc
xá.
2.
Cung
cấp
thông
tin,
tài
liệu
có
liên
quan
đến
nhân
thân;
cấp
giấy
chứng
nhận,
xác
nhận
về
việc
chấp
hành
chính
sách,
pháp
luật,
hoàn
cảnh
gia
đình
hoặc
giấy
tờ,
tài
liệu
cần
thiết
khác
của
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá.
3.
Tiếp
nhận,
giúp
đỡ
người
được
đặc
xá
trở
về
hòa
nhập
với
gia
đình
và
cộng
đồng,
tạo
điều
kiện
về
việc
làm,
ổn
định
cuộc
sống,
trở
thành
người
có
ích
cho
xã
hội,
phòng
ngừa
tái
phạm
tội,
vi
phạm
pháp
luật.
4.
Chính
phủ
quy
định
chi
tiết
khoản
3
Điều
này.
Điều
34.
Trách
nhiệm
của
Mặt
trận
Tổ
quốc
Việt
Nam
và
các
tổ
chức
thành
viên
của
Mặt
trận
1.
Phối
hợp
với
các
cơ
quan,
tổ
chức
có
liên
quan
tuyên
truyền,
phổ
biến
pháp
luật
về
đặc
xá,
Quyết
định
về
đặc
xá.
2.
Phối
hợp
với
chính
quyền
địa
phương
giúp
đỡ
người
được
đặc
xá
trở
về
hòa
nhập
với
gia
đình
và
cộng
đồng,
tạo
điều
kiện
về
việc
làm,
ổn
định
cuộc
sống,
trở
thành
người
có
ích
cho
xã
hội,
phòng
ngừa
tái
phạm
tội,
vi
phạm
pháp
luật.
3.
Giám
sát
việc
thực
hiện
pháp
luật
về
đặc
xá
theo
quy
định
của
pháp
luật.
Điều
35.
Trách
nhiệm
của
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
1.
Tổ
chức
triển
khai
thực
hiện
Quyết
định
về
đặc
xá.
2.
Thẩm
tra,
duyệt
hồ
sơ
đề
nghị
đặc
xá,
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá,
danh
sách
người
không
đủ
điều
kiện
đề
nghị
đặc
xá
do
Thường
trực
Hội
đồng
tư
vấn
đặc
xá
trình.
3.
Tổng
hợp,
lập
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
trình
Chủ
tịch
nước
xem
xét,
quyết
định.
4.
Thực
hiện
nhiệm
vụ
khác
về
đặc
xá
được
Chủ
tịch
nước
giao.
Chương
V
KHIẾU
NẠI,
TỐ
CÁO
TRONG
THỰC
HIỆN
ĐẶC
XÁ
Điều
36.
Khiếu
nại
về
việc
lập
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
nhân
sự
kiện
trọng
đại,
ngày
lễ
lớn
của
đất
nước
1.
Người
có
đơn
xin
đặc
xá
có
quyền
khiếu
nại
về
việc
người
đó
có
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
nhưng
không
được
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Bộ
Quốc
phòng,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
đưa
vào
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá.
2.
Người
khiếu
nại
có
thể
tự
mình
hoặc
thông
qua
người
đại
diện
hợp
pháp
khiếu
nại
đến
người
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
khoản
1
Điều
37
của
Luật
này.
3.
Thời
hạn
khiếu
nại
là
05
ngày
kể
từ
ngày
thông
báo,
niêm
yết
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
quy
định
tại
khoản
4
Điều
15
của
Luật
này.
Điều
37.
Thẩm
quyền
và
thời
hạn
giải
quyết
khiếu
nại
1.
Giám
thị
trại
giam,
Giám
thị
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Quốc
phòng,
Thủ
trưởng
cơ
quan
quản
lý
trực
tiếp
trại
tạm
giam
thuộc
Bộ
Công
an,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
Công
an
cấp
tỉnh,
Thủ
trưởng
cơ
quan
thi
hành
án
hình
sự
cấp
quân
khu,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
cấp
tỉnh,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
cấp
quân
khu
có
trách
nhiệm
giải
quyết
khiếu
nại
trong
thời
hạn
05
ngày
kể
từ
ngày
nhận
được
khiếu
nại.
Quyết
định
giải
quyết
khiếu
nại
phải
được
gửi
ngay
cho
người
khiếu
nại
và
Viện
kiểm
sát
đã
thực
hiện
kiểm
sát
việc
lập
hồ
sơ,
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá
quy
định
tại
Luật
này.
2.
Trường
hợp
không
đồng
ý
với
quyết
định
giải
quyết
khiếu
nại
của
người
có
thẩm
quyền
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này
thì
trong
thời
hạn
05
ngày
kể
từ
ngày
nhận
được
Quyết
định
giải
quyết
khiếu
nại,
người
khiếu
nại
có
quyền
tiếp
tục
khiếu
nại
đến
Bộ
trưởng
Bộ
Công
an,
Bộ
trưởng
Bộ
Quốc
phòng,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao;
Viện
kiểm
sát
quy
định
tại
khoản
1
Điều
này
có
quyền
kiến
nghị
đến
Bộ
trưởng
Bộ
Công
an,
Bộ
trưởng
Bộ
Quốc
phòng,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao.
Trong
thời
hạn
05
ngày
kể
từ
ngày
nhận
được
khiếu
nại,
kiến
nghị,
Bộ
trưởng
Bộ
Công
an,
Bộ
trưởng
Bộ
Quốc
phòng,
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
có
trách
nhiệm
giải
quyết,
nếu
chấp
nhận
khiếu
nại,
kiến
nghị
thì
đưa
vào
danh
sách
người
đủ
điều
kiện
được
đề
nghị
đặc
xá;
nếu
không
chấp
nhận
thì
đưa
vào
danh
sách
người
không
đủ
điều
kiện
đề
nghị
đặc
xá;
đồng
thời
thông
báo
bằng
văn
bản
cho
người
khiếu
nại,
Viện
kiểm
sát
kiến
nghị.
Điều
38.
Tố
cáo
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
trong
thực
hiện
đặc
xá
Cá
nhân
có
quyền
tố
cáo
hành
vi
vi
phạm
pháp
luật
trong
thực
hiện
đặc
xá.
Việc
tố
cáo
và
giải
quyết
tố
cáo
trong
thực
hiện
đặc
xá
được
thực
hiện
theo
quy
định
của
pháp
luật
về
tố
cáo.
Chương
VI
ĐIỀU
KHOẢN
THI
HÀNH
Điều
39.
Hiệu
lực
thi
hành
1.
Luật
này
có
hiệu
lực
thi
hành
từ
ngày
01
tháng
7
năm
2019.
2.
Luật
Đặc
xá
số
07/2007/QH12
hết
hiệu
lực
kể
từ
ngày
Luật
này
có
hiệu
lực
thi
hành.
Luật
này
được
Quốc
hội
nước
Cộng
hòa
xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
khóa
XIV,
kỳ
họp
thứ
6
thông
qua
ngày
19
tháng
11
năm
2018.
CHỦ
TỊCH
QUỐC
HỘI
Nguyễn
Thị
Kim
Ngân