VIỆN
KIỂM
SÁT
NHÂN
DÂN
TỈNH
TUYÊN
QUANG
-
Đã
xem:
14999
Áp
dụng
nguyên
tắc
có
lợi
theo
khoản
3
Điều
7
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015,
những
khó
khăn
vướng
mắc
cần
được
tháo
gỡ.
Thứ
tư
-
28/09/2016
13:55
Thực
hiện
quy
định
tại
khoản
3,
Điều
7
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015;
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
ngày
27/11/2015,
Nghị
quyết
số
144/2015/QH13
ngày
29/6/2016
của
Quốc
Hội
và
Nghị
quyết
số
01/2016/NQ-HĐTP
ngày
30/6/2016
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
TAND
tối
cao
về
hướng
dẫn
thi
hành
một
số
nội
dung
quy
định
tại
khoản
3
Điều
7
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
và
Nghị
quyết
số
144/2015/QH13
ngày
29/6/2016
của
Quốc
Hội
nhằm
thể
hiện
tính
nhân
đạo,
dân
chủ
của
pháp
luật
Việt
Nam
cũng
như
bảo
đảm
kịp
thời
các
quyền
con
người
đối
với
người
phải
chấp
hành
án
còn
ngoài
xã
hội
(sau
đây
gọi
tắt
là
bị
án),
người
đang
chấp
hành
án
trong
Trại
giam
(sau
đây
gọi
tắt
là
phạm
nhân)
không
bị
pháp
luật
hạn
chế
hoặc
tước
bỏ
là
trách
nhiệm
của
cả
hệ
thống
chính
trị
và
toàn
xã
hội.
Tuy
nhiên,
quá
trình
thực
hiện
áp
dụng
Nghị
quyết
số
01/2016/NQ-HĐTP
ngày
30/6/2016
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
TAND
tối
cao
về
hướng
dẫn
thi
hành
một
số
nội
dung
quy
định
tại
khoản
3
Điều
7
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
và
Nghị
quyết
số
144/2015/QH13
ngày
29/6/2016
của
Quốc
Hội
(sau
đây
gọi
tắt
là
Nghị
quyết
số
01)
còn
có
nhiều
khó
khăn
vướng
mắc,
trong
việc
miễn
chấp
hành
hình
phạt
đối
với
các
bị
án
và
phạm
nhân.
Trong
khuôn
khổ
bài
viết,
Tác
giả
xin
nêu
ra
một
số
trường
hợp
để
bạn
đọc
cùng
tham
khảo,
trao
đổi
và
có
ý
kiến
phân
tích
nhằm
làm
rõ
hơn
những
vấn
đề
pháp
lý
còn
chưa
cụ
thể
trong
quá
trình
áp
dụng
pháp
luật.
I-
Các
quy
định
về
miễn
chấp
hành
hình
phạt:
Điều
3
Nghị
quyết
01
quy
định:
Về
việc
không
xử
lý
hình
sự
đối
với
người
thực
hiện
hành
vi
mà
Bộ
luật
hình
sự
số
15/1999/QH10
(được
sửa
đổi,
bổ
sung
theo
Luật
số
37/2009/QH12)
quy
định
là
tội
phạm
nhưng
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13
không
quy
định
là
tội
phạm.
1.
Kể
từ
ngày
09
tháng
12
năm
2015,
không
xử
lý
hình
sự
đối
với
các
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
d,
điểm
đ
khoản
2
Điều
1
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
và
những
trường
hợp
sau
đây:
a)
Người
thực
hiện
hành
vi
mà
theo
quy
định
của
Bộ
luật
hình
sự
số
15/1999/QH10
(được
sửa
đổi,
bổ
sung
theo
Luật
số
37/2009/QH12)
là
tội
phạm
nhưng
theo
quy
định
của
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13
thì
hành
vi
đó
chưa
cấu
thành
tội
phạm
do
có
bổ
sung,
thay
đổi
các
yếu
tố
cấu
thành
tội
phạm
đó.
b)
Người
thực
hiện
hành
vi
chuẩn
bị
phạm
các
tội
trừ
các
tội
danh
quy
định
tại
khoản
2
Điều
14
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13.
2.
Đối
với
các
trường
hợp
hướng
dẫn
tại
điểm
a
và
điểm
b
khoản
1
Điều
này,
nếu
vụ
án
đang
trong
giai
đoạn
xét
xử
thì
Tòa
án
phải
mở
phiên
tòa
và
căn
cứ
vào
Điều
25
Bộ
luật
hình
sự
số
15/1999/QH10
(được
sửa
đổi,
bổ
sung
theo
Luật
số
37/2009/QH12)
miễn
trách
nhiệm
hình
sự
đối
với
người
phạm
tội;
trường
hợp
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt
hoặc
đang
được
tạm
đình
chỉ
thi
hành
án
thì
được
miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại;
trường
hợp
người
bị
kết
án
chưa
chấp
hành
hình
phạt
hoặc
đang
được
hoãn
thi
hành
án
thì
được
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt.
Những
người
đã
chấp
hành
xong
hình
phạt,
được
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
hoặc
hình
phạt
còn
lại
thì
đương
nhiên
được
xóa
án
tích.
Điều
6
Nghị
quyết
số
01
quy
định:
Về
việc
miễn
chấp
hành
hình
phạt
đối
với
các
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
d,
điểm
đ
khoản
2
Điều
1
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
và
hướng
dẫn
tại
điểm
a,
điểm
b
khoản
1
Điều
3
Nghị
quyết
này
được
thực
hiện
như
sau:
1-
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
tỉnh,
thành
phố
trực
thuộc
trung
ương,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
quân
khu
và
tương
đương
nơi
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt,
cư
trú
hoặc
làm
việc
có
thẩm
quyền:
-
Ra
quyết
định
miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt
tù
hoặc
đang
thi
hành
án
treo.
-
Ra
quyết
định
miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại
hoặc
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
bị
xử
phạt
tù
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
hình
phạt,
đang
được
hoãn
chấp
hành
hình
phạt
hoặc
chưa
chấp
hành
hình
phạt.
2-
Chánh
án
Tòa
án
nhân
dân
huyện,
quận,
thị
xã,
thành
phố
thuộc
tỉnh
và
tương
đương,
Chánh
án
Tòa
án
quân
sự
khu
vực
nơi
người
bị
kết
án
chấp
hành
hình
phạt,
cư
trú
hoặc
làm
việc
ra
quyết
định:
-
Miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt
cải
tạo
không
giam
giữ;
-
Miễn
chấp
hành
thời
hạn
cấm
cư
trú
hoặc
thời
hạn
quản
chế
còn
lại
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt
cấm
cư
trú
hoặc
quản
chế;
-
Miễn
chấp
hành
thời
hạn
cấm
đảm
nhiệm
chức
vụ,
cấm
hành
nghề
hoặc
làm
công
việc
nhất
định,
miễn
chấp
hành
thời
hạn
tước
một
số
quyền
công
dân
còn
lại
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
đang
chấp
hành
hình
phạt
cấm
đảm
nhiệm
chức
vụ,
cấm
hành
nghề
hoặc
làm
công
việc
nhất
định,
tước
một
số
quyền
công
dân;
-
Miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại
hoặc
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
đối
với
trường
hợp
người
bị
kết
án
bị
xử
phạt
bằng
các
hình
phạt
khác
đang
được
tạm
đình
chỉ
chấp
hành
hình
phạt,
đang
được
hoãn
chấp
hành
hình
phạt
hoặc
chưa
chấp
hành
hình
phạt.
II-
Những
vấn
đề
cần
nghiên
cứu:
-
Các
trường
hợp
được
miễn
chấp
hành
phần
hình
phạt
còn
lại
và
được
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
là
do
chuyển
biến
tình
hình
pháp
luật
và
chính
sách
hình
sự
mới
nhân
đạo
của
Nhà
nước
chứ
không
phải
do
oan
sai
do
đó
người
được
miễn
chấp
hành
hình
phạt
không
có
quyền
yêu
cầu
bồi
thường
thiệt
hại
theo
quy
định
của
Luật
trách
nhiệm
bồi
thường
của
Nhà
nước.
-
Xác
định
mốc
thời
gian
(ngày
công
bố
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015)
để
tiến
hành
xem
xét
miễn
chấp
hành
hình
phạt
(sau
đây
gọi
tắt
là
miễn
CHHP)
quy
định
tại
điểm
d,
Khoản
5
Điều
6
Nghị
quyết
số
01
như
sau:
+
Đối
với
các
trường
hợp
bị
kết
án
trước
ngày
09
tháng
12
năm
2015
thì
thuộc
trường
hợp
được
xem
xét
miễn
CHHP.
+
Đối
với
các
trường
hợp
bị
kết
án
từ
ngày
09
tháng
12
năm
2015
trở
đi
thì
không
thực
hiện
việc
miễn
CHHP
mà
phải
xét
lại
bản
án,
quyết
định
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
theo
thủ
tục
giám
đốc
thẩm.
-
Khi
xét
miễn
chỉ
miễn
CHHP
(hình
phạt
chính
và
hình
phạt
bổ
sung)
đối
với
các
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
d,
điểm
đ
khoản
2
Điều
1
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
và
hướng
dẫn
tại
điểm
a,
điểm
b
khoản
1
Điều
3
Nghị
quyết
này;
đối
với
các
vấn
đề
khác
như:
trách
nhiệm
bồi
thường
thiệt
hại,
trả
lại
tài
sản,
xử
lý
vật
chứng,
án
phí
hình
sự,
án
phí
dân
sự...
thì
người
được
miễn
chấp
hành
hình
phạt
vẫn
phải
thi
hành.
-
Trường
hợp
người
bị
kết
án
thuộc
trường
hợp
được
miễn
CHHP
nhưng
chưa
chấp
hành
hình
phạt
thì
được
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
đối
với
tội
mà
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13
không
quy
định
là
tội
phạm.
-
Trường
hợp
người
bị
kết
án
đã
chấp
hành
một
phần
hình
phạt
chung
hoặc
đang
chấp
hành
hình
phạt
mà
thời
gian
đã
chấp
hành
hình
phạt
chưa
vượt
quá
mức
hình
phạt
mà
Tòa
án
đã
xử
phạt
đối
với
tội
không
được
miễn
CHHP,
thì
người
bị
kết
án
được
miễn
chấp
hành
toàn
bộ
hình
phạt
đối
với
tội
mà
Bộ
luật
hình
sự
số
100/2015/QH13
không
quy
định
là
tội
phạm.
-
Trường
hợp
người
bị
kết
án
đã
chấp
hành
một
phần
hình
phạt
chung
hoặc
đang
chấp
hành
hình
phạt
mà
thời
gian
đã
chấp
hành
hình
phạt
bằng
hoặc
vượt
quá
mức
hình
phạt
mà
Tòa
án
đã
xử
phạt
đối
với
tội
không
được
miễn
CHHP
thì
người
bị
kết
án
được
miễn
CHHP
phần
còn
lại.
III-
Những
vướng
mắc,
bất
cập
và
giải
pháp.
Thứ
nhất:
Nghị
quyết
số
01
mới
đề
cập
đến
trường
hợp
đủ
điều
kiện
được
xem
xét
miễn
CHHP
(đang
chấp
hành,
đang
tạm
đình
chỉ
và
chưa
chấp
hành
do
được
hoãn)
tức
là
thuộc
các
trường
hợp
tự
nguyện,
tự
giác
đi
thi
hành
án
và
đang
do
cơ
quan
Nhà
nước
có
thẩm
quyền
quản
lý,
giám
sát
nhưng
chưa
đề
cập
đến
các
trường
hợp
không
tự
giác
chấp
hành
án,
đang
trốn
thi
hành
án,
đang
bị
truy
nã
thi
hành
án.
-
Ý
kiến
thứ
nhất:
Bất
cứ
trường
hợp
nào
đủ
điều
kiện
thì
đều
được
hưởng
quyền,
không
có
sự
phân
biệt,
so
sánh
giữa
“người
chấp
hành
án
tự
giác,
tự
nguyện,
ăn
năn
hối
cải…”
với
“người
chấp
hành
án
chống
đối
pháp
luật,
chây
ỳ,
trốn
tránh
thực
hiện
nghĩa
vụ
thi
hành
án”…
có
như
vậy
mới
bảo
đảm
tính
dân
chủ,
nhân
đạo
của
pháp
luật.
-
Ý
kiến
thứ
hai:
Điều
16
Hiến
pháp
năm
2013
quy
định:“Mọi
người
đều
bình
đẳng
trước
pháp
luật...”
nếu
chấp
nhận
quan
điểm
nêu
trên
thì
sẽ
tạo
ra
sự
không
công
bằng
và
tiền
lệ
xấu
trong
quan
hệ
pháp
luật
vì
“người
tự
giác,
tự
nguyện
chấp
hành
án,
ăn
năn
hối
cải”
thì
bị
thiệt
thòi
vì
thuộc
trường
hợp
“đã
và
đang”
chấp
hành
hình
phạt
còn
“người
chống
đối
chấp
hành
án,
chây
ỳ,
trốn
tránh
thực
hiện
nghĩa
vụ
thi
hành
án”
lại
đương
nhiên
được
hưởng
lợi
(miễn
CHHP,
xóa
án
tích)
do
sự
chuyển
biến
của
pháp
luật
mà
không
phải
chịu
bất
cứ
trách
nhiệm
gì.
-
Quan
điểm
của
Tác
giả:
Để
bảo
đảm
tính
công
bằng,
nghiêm
minh
của
pháp
luật
cần
quy
định
rõ
hơn
các
điều
kiện
“cần
và
đủ”
để
được
xét
miễn
CHHP
phải
thuộc
các
trường
hợp
tự
giác
chấp
hành
pháp
luật,
do
các
cơ
quan
có
thẩm
quyền
quản
lý,
giám
sát.
Không
nên
xét
miễn
CHHP
cho
các
trường
hợp
chống
đối
pháp
luật,
chây
ỳ,
trốn
thi
hành
án,
phải
truy
nã
thi
hành
án,
gây
bức
xúc
dư
luận
hoặc
chỉ
xét
miễn
CHHP
khi
đã
thực
hiện
xong
nghĩa
vụ
dân
sự
và
phải
bị
xử
phạt
hành
chính
theo
Điều
63
Luật
xử
lý
vi
phạm
hành
chính
(tương
tự
như
trường
hợp
được
đình
chỉ
vụ
án
theo
khoản
6
Điều
5
Nghị
quyết
này).
Thứ
hai:
Trường
hợp
đủ
điều
kiện
được
xem
xét
miễn
CHHP
nhưng
tại
thời
điểm
Hội
đồng
xét
miễn
CHHP
mở
phiên
họp,
họ
đã
chấp
hành
xong
hình
phạt
chính
(hình
phạt
tù
hoặc
thời
gian
thử
thách
của
án
treo)
nhưng
chưa
chấp
hành
xong
hình
phạt
bổ
sung
(hình
phạt
tiền…)
thì
Hội
đồng
có
được
xem
xét
miễn
hình
phạt
bổ
sung
là
phạt
tiền
không?
thẩm
quyền
miễn
hình
phạt
tiền
thuộc
Tòa
án
hay
do
Cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự
?
-
Có
ý
kiến
cho
rằng:
Theo
điểm
a,
khoản
5
Điều
6
Nghị
quyết
số
01
quy
định:
Các
trường
hợp
quy
định
tại
điểm
d,
điểm
đ
khoản
2
Điều
1
Nghị
quyết
số
109/2015/QH13
và
hướng
dẫn
tại
điểm
a,
điểm
b
khoản
1
Điều
3
Nghị
quyết
này
đều
được
xét
miễn
CHHP
gồm
hình
phạt
chính
và
hình
phạt
bổ
sung
mà
không
phân
biệt
thuộc
loại
hình
phạt
nào,
do
đó
việc
miễn
hình
phạt
tiền
cũng
thuộc
thẩm
quyền
của
Tòa
án.
-
Quan
điểm
của
Tác
giả:
Cơ
quan
Tòa
án
chỉ
xem
xét
miễn
hình
phạt
chính,
hình
phạt
bổ
sung
mà
không
phải
là
phạt
tiền
(các
trường
hợp
ngoài
hình
phạt
tiền).
Các
trường
hợp
bị
kết
án
bằng
hình
phạt
tiền
(gồm
hình
phạt
chính
và
hình
phạt
bổ
sung)
đều
thuộc
trường
hợp
phải
thi
hành
án
chủ
động
của
Cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự;
do
đó,
thẩm
quyền
xét
miễn
thuộc
trách
nhiệm
của
Cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự;
có
như
vậy
mới
phù
hợp
với
Điều
1
Luật
Thi
hành
án
hình
sự,
Điều
1
Luật
Thi
hành
án
dân
sự.
Thứ
ba:
Trường
hợp
đủ
điều
kiện
được
xem
xét
miễn
CHHP
nhưng
tại
thời
điểm
Hội
đồng
xét
miễn
CHHP
mở
phiên
họp,
họ
chưa
chấp
hành
xong
hình
phạt
chính
(hình
phạt
tù
hoặc
thời
gian
thử
thách
của
án
treo)
nhưng
đã
chấp
hành
xong
hình
phạt
bổ
sung
(hình
phạt
tiền…)
thì
sau
khi
Hội
đồng
xét
ra
quyết
định
miễn
CHHP
chính
thì
người
được
miễn
CHHP
có
được
nhận
lại
khoản
tiền
đã
nộp
trước
đó
hay
không?
thủ
tục
hoàn
trả
khoản
tiền
đã
thi
hành
án
như
thế
nào?
thẩm
quyền
giải
quyết
thuộc
Tòa
án
hay
do
Cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự
?
-
Quan
điểm
thứ
nhất:
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
không
coi
hành
vi
nào
đó
là
tội
phạm
nữa
thì
người
thực
hiện
hành
vi
bị
kết
án
trước
đó
được
coi
là
không
phạm
tội,
do
vậy
các
cơ
quan
Nhà
nước
có
thẩm
quyền
phải
có
trách
nhiệm
khôi
phục
lại
quyền
lợi
cho
người
được
miễn
CHHP;
khoản
tiền
mà
họ
đã
nộp
trước
khi
được
xét
miễn
phải
được
hoàn
trả
lại
cho
họ
theo
quy
định
của
pháp
luật.
-
Quan
điểm
thứ
hai:
Đối
với
những
khoản
tiền
là
hình
phạt
chính
hoặc
hình
phạt
bổ
sung
mà
tại
thời
điểm
Hội
đồng
xét
miễn
CHHP
mở
phiên
họp
mà
người
được
miễn
CHHP
chưa
chấp
hành
(chưa
nộp
Ngân
sách
Nhà
nước)
thì
được
miễn
thi
hành;
trường
hợp
họ
đã
nộp
Ngân
sách
Nhà
nước
xong
trước
khi
được
xét
miễn
thì
không
phải
hoàn
trả
lại
vì
tại
thời
điểm
người
đó
thực
hiện
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
(có
lỗi)
và
bị
pháp
luật
hình
sự
hiện
hành
coi
đó
là
tội
phạm.
-
Tác
giả
cho
rằng:
Người
được
miễn
CHHP
do
chuyển
biến
tình
hình
pháp
luật
và
chính
sách
hình
sự
mới
nhân
đạo
của
Nhà
nước
không
thuộc
trường
hợp
bị
oan
sai,
không
phải
do
lỗi
của
các
cơ
quan
tố
tụng
gây
thiệt
hại
cho
người
được
miễn
nên
không
có
quyền
yêu
cầu
bồi
thường
oan
sai.
Vì
thế,
họ
chỉ
được
miễn
hình
phạt
chính
hoặc
hình
phạt
bổ
sung
còn
lại,
những
vấn
đề
khác
như:
án
phí,
tiền
truy
thu,
tịch
thu;
trách
nhiệm
bồi
thường
thiệt
hại;
trả
lại
tài
sản
…(
khoản
7
Điều
62
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015)
họ
vẫn
phải
thi
hành.
Đối
với
trường
hợp
đã
nộp
khoản
tiền
(là
hình
phạt
bổ
sung…)
trước
khi
được
xét
miễn
hình
phạt
thì
Ngân
sách
nhà
nước
cần
hoàn
trả
lại
số
tiền
đó
cho
người
đã
được
miễn
CHHP
chính
hoặc
hình
phạt
bổ
sung
được
tuyên
trong
bản
án.
Việc
thực
hiện
thoái
thu
từ
Ngân
sách
nhà
nước
được
thực
hiện
theo
Thông
tư
số
68/2001/TT-BTC
ngày
24/8/2001
của
Bộ
Tài
chính
hướng
dẫn
hoàn
trả
các
khoản
thu
đã
nộp
Ngân
sách
Nhà
nước
do
Cơ
quan
Thi
hành
án
dân
sự
thực
hiện.
Thứ
tư:
Trường
hợp
bị
án,
phạm
nhân
đang
chấp
hành
nhiều
bản
án
(trong
đó
có
bản
án
thứ
nhất
cho
hưởng
án
treo
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
(về
tội
khác
không
thuộc
trường
hợp
được
miễn),
sau
đó
được
tổng
hợp
hình
phạt
chung
với
bản
án
thứ
hai
thành
án
phạt
tù
có
thời
hạn
do
xác
định
có
tiền
án,
phạm
tội
mới
trong
thời
gian
thử
thách)
thì
khi
miễn
CHHP
tù
của
bản
án
sau
(án
phạt
tù)
thì
hình
phạt
tù
nhưng
cho
hưởng
án
treo
của
bản
án
thứ
nhất
được
giải
quyết
xử
lý
như
thế
nào?
bởi
lẽ:
Tội
phạm
tại
bản
án
thứ
nhất
không
thuộc
trường
hợp
được
miễn;
đồng
thời
tình
tiết
“tái
phạm,
tái
phạm
nguy
hiểm”
theo
điểm
g
khoản
1
Điều
48
hoặc
“phạm
tội
mới
trong
thời
gian
thử
thách”
theo
khoản
5
Điều
60
Bộ
luật
hình
sự
năm
2009”
là
yếu
tố
định
tội
của
bản
án
thứ
hai.
-
Quan
điểm
thứ
nhất:
Bị
án,
phạm
nhân
phải
thi
hành
nhiều
bản
án
(trong
đó
có
bản
án
thứ
nhất
cho
hưởng
án
treo
sau
đó
được
tổng
hợp
với
bản
án
thứ
hai
thành
án
phạt
tù
có
thời
hạn)
mà
hình
phạt
của
bản
án
sau
dù
được
miễn
thì
bị
án,
phạm
nhân
vẫn
phải
chấp
hành
hình
phạt
tù
có
thời
hạn
của
bản
án
thứ
nhất;
bởi
vì:
Tội
phạm,
hình
phạt
tại
bản
án
thứ
nhất
không
thuộc
trường
hợp
được
miễn;
tại
thời
điểm
người
đó
thực
hiện
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
(có
lỗi)
và
bị
pháp
luật
hình
sự
hiện
hành
coi
đó
là
tội
phạm.
-
Quan
điểm
thứ
hai:
Khi
bản
án
thứ
hai
được
miễn
CHHP
thì
bị
án,
phạm
nhân
không
phải
chấp
hành
hình
phạt
tù
có
thời
hạn
của
bản
án
thứ
nhất
nữa
mà
đương
nhiên
được
chuyển
trở
lại
thành
án
treo;
bởi
vì:
Căn
cứ
để
chuyển
án
treo
của
bản
án
thứ
nhất
thành
án
tù
có
thời
hạn
của
bản
án
thứ
hai
chính
là
do
họ
đã
thực
hiện
hành
vi
nguy
hiểm
cho
xã
hội
(có
lỗi)
và
bị
pháp
luật
hình
sự
hiện
hành
coi
đó
là
tội
phạm;
khi
hình
phạt
của
bản
án
thứ
hai
được
miễn
(hình
phạt
không
còn
hiệu
lực
thi
hành)
thì
đương
nhiên
việc
chuyển
án
treo
thành
án
tù
có
thời
hạn
của
bản
án
thứ
hai
cũng
không
còn
hiệu
lực
thi
hành.
Cơ
quan
có
thẩm
quyền
cần
trả
tự
do
ngay
cho
bị
án,
phạm
nhân
và
giao
họ
cho
chính
quyền
địa
phương
nơi
cư
trú
quản
lý,
giám
sát,
giáo
dục
để
tiếp
tục
thi
hành
thời
hạn
thử
thách
còn
lại
của
án
treo
mà
bản
án
thứ
nhất
đã
tuyên.
-
Quan
điểm
của
Tác
giả:
Quan
điểm
thứ
hai
có
nhiều
luận
cứ
phù
hợp
với
các
quy
định
của
pháp
luật,
phù
hợp
với
nguyên
tắc
có
lợi
cho
người
chấp
hành
án;
Tuy
nhiên
sau
khi
bản
án
thứ
hai
được
miễn
CHHP
thì
Cơ
quan
Thi
hành
án
hình
sự,
Trại
giam
cần
thông
báo
ngay
cho
Tòa
án
nơi
ra
quyết
định
thi
hành
án
phạt
tù,
phạt
tù
nhưng
cho
hưởng
án
treo
biết
để
thực
hiện
việc
báo
cáo
Tòa
án
cấp
trên
có
thẩm
quyền
(Tòa
án
nhân
dân
cấp
cao,
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao…)
xem
xét
kháng
nghị
bản
án
thứ
hai
(thuộc
trường
hợp
được
miễn)
theo
trình
tự
xét
lại
bản
án,
quyết
định
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
theo
thủ
tục
giám
đốc
thẩm
để
giải
quyết
việc
thi
hành
hình
phạt
tù
nhưng
cho
hưởng
án
treo
mà
bản
án
thứ
nhất
đã
tuyên.
Thứ
năm:
Điều
kiện
được
miễn
CHHP
đối
với
tội
Đánh
bạc
(Điều
248
Bộ
luật
hình
sự
2009)
được
Nghị
quyết
01
hướng
dẫn
như
sau:“Một
người
chưa
bị
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
về
hành
vi
đánh
bạc
hoặc
hành
vi
tổ
chức
đánh
bạc,
chưa
bị
kết
án
về
tội
đánh
bạc
hoặc
tội
tổ
chức
đánh
bạc
hoặc
đã
bị
kết
án
về
tội
đánh
bạc
hoặc
tội
tổ
chức
đánh
bạc
nhưng
đã
được
xóa
án
tích
mà
có
hành
vi
đánh
bạc
trái
phép
dưới
bất
kỳ
hình
thức
nào
được
thua
bằng
tiền
hay
hiện
vật
trị
giá
dưới
5.000.000
đồng
thì
không
phải
chịu
trách
nhiệm
hình
sự
về
tội
đánh
bạc”.
-
Có
quan
điểm
cho
rằng:
Bộ
luật
hình
sự
năm
2015
xác
định
số
tiền
đánh
bạc
từ
5.000.000
đồng
trở
lên
mới
phải
chịu
trách
nhiệm
hình
sự
do
đó
các
trường
hợp
dưới
5.000.000
đồng
đều
được
miễn,
kể
cả
trường
hợp
bản
án
tuyên
có
tình
tiết
đã
bị
xử
phạt
hành
chính
hoặc
chưa
được
xóa
án
tích
(tái
phạm,
tái
phạm
nguy
hiểm),
như
vậy
pháp
luật
mới
được
thực
hiện
thống
nhất.
-
Tác
giả
cho
rằng:
Theo
nội
dung
hướng
dẫn
nêu
trên
thì
điều
kiện
được
miễn
CHHP
phải
là:
Khi
bản
án
tuyên,
người
bị
kết
án
phải
có
nhân
thân
tốt,
chưa
có
tiền
án
tiền
sự.
Không
thực
hiện
miễn
CHHP
cho
người
không
có
đủ
điều
kiện
về
tiền
án,
tiền
sự
cho
dù
số
tiền
đánh
bạc
của
các
bản
án
đã
có
hiệu
lực
pháp
luật
đều
dưới
5.000.000
đồng
hoặc
chỉ
xét
miễn
CHHP
khi
đã
thực
hiện
xong
nghĩa
vụ
dân
sự
và
phải
bị
xử
phạt
hành
chính
theo
Điều
63
Luật
xử
lý
vi
phạm
hành
chính
(tương
tự
như
trường
hợp
được
đình
chỉ
vụ
án
theo
khoản
6
Điều
5
Nghị
quyết
này).
Trên
đây
là
quan
điểm
cá
nhân
của
Tác
giả
về
việc
miễn
CHHP
theo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
người
chấp
hành
án,
rất
mong
được
bạn
đọc
chia
sẻ
và
thảo
luận,
phản
ánh
trong
quá
trình
góp
ý
xây
dựng
pháp
luật.
Đề
nghị
Liên
ngành
Tư
pháp
trung
ương
sớm
có
hướng
dẫn
cụ
thể,
phù
hợp
với
thực
tiễn
nhằm
tháo
gỡ
những
vướng
mắc,
bất
cập
để
việc
áp
dụng
pháp
luật
được
đồng
bộ
và
thống
nhất.