Tội
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
được
quy
định
cụ
thể
tại
Điều
201
Bộ
luật
Hình
sự
(BLHS)
và
được
hướng
dẫn
áp
dụng
tại
Công
văn
số
212/TATC-PC
ngày
13/9/2019
của
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao;
Công
văn
số
4688/VKSTC-V14
ngày
09/10/2020
của
Viện
kiểm
sát
nhân
dân
tối
cao
và
Nghị
quyết
số
01/2021/NQ-HĐTP
ngày
20/12/2021
của
Hội
đồng
Thẩm
phán
Tòa
án
nhân
dân
tối
cao
(gọi
tắt
là
Nghị
quyết
số
01).
Tuy
nhiên
các
Công
văn
và
Nghị
quyết
số
01
nêu
trên
chỉ
hướng
dẫn
một
số
nội
dung
như:
Nguyên
tắc
xử
lý
đối
với
người
phạm
tội;
Xác
định
tư
cách
tố
tụng
người
vay;
Xử
lý
vật,
tiền
liên
quan
trực
tiếp
đến
tội
phạm;
Xác
định
số
tiền
thu
lợi
bất
chính
để
xử
lý
trách
nhiệm
hình
sự.
Trong
đó
chỉ
hướng
dẫn
chung
đối
với
khoản
tiền,
tài
sản
khác
người
phạm
tội
dùng
để
cho
vay
phải
tịch
thu
sung
quỹ
nhà
nước.
Qua
thực
tế
theo
dõi
các
vụ
án
cho
vay
lãi
nặng
trong
giao
dịch
dân
sự
đã
được
điều
tra,
truy
tố,
xét
xử
phát
sinh
trên
địa
bàn
tỉnh
Tuyên
Quang
thấy
rằng,
trong
một
số
vụ
án
có
tính
chất
tương
tự
như
nhau
nhưng
việc
xác
định,
xử
lý
số
tiền
gốc
lại
hoàn
toàn
khác
nhau,
cụ
thể
các
vụ
án
sau:
Vụ
án
thứ
nhất:
Ngày
30/3/2023,
Lục
Thị
D
trú
tại
xã
KT,
huyện
Y
cho
Hoàng
Thị
M,
trú
cùng
xã
vay
20.000.000
đồng,
với
lãi
xuất
thỏa
thuận
là
1.500.000
đồng/tuần
(tương
ứng
với
mức
lãi
suất
391,07%/năm,
gấp
19,55
lần
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Dân
sự).
Đến
ngày
16/5/2023,
M
đã
trả
toàn
bộ
tiền
gốc
và
tiền
lãi
tính
từ
30/3/2023
đến
ngày
16/5/2023
là
48
ngày
(07
tuần),
M
đã
trả
cho
D
tổng
số
tiền
lãi
là
10.100.000
đồng
(M
trả
thiếu
400.000
đồng,
D
đồng
ý
cho).
Trong
giao
dịch
trên,
số
tiền
lãi
tính
theo
mức
lãi
suất
cao
nhất
của
Bộ
luật
Dân
sự
là
526.027
đồng,
thu
lợi
bất
chính
số
tiền
9.573.973
đồng.
Ngày
03/6/2023,
D
tiếp
tục
cho
M
vay
20.000.000
đồng
và
thỏa
thuận
lãi
xuất
như
lần
trước.
Đến
ngày
11/12/2023
là
191
ngày
(27
tuần),
M
đã
trả
tiền
gốc
và
12
lần
chuyển
khoản
tiền
lãi
với
tổng
số
tiền
là
34.200.000
đồng
(Số
tiền
lãi
theo
thỏa
thuận
còn
thiếu
D
đồng
ý
cho
M).
Trong
giao
dịch
trên,
số
tiền
lãi
tính
theo
mức
lãi
suất
cao
nhất
của
Bộ
luật
Dân
sự
là
2.093.150
đồng,
thu
lợi
bất
chính
số
tiền
32.106.850
đồng.
Bản
án
số
30
ngày
03/6/2024
của
huyện
Y
đã
tuyên
về
tội
danh,
hình
phạt,…
và
truy
thu
của
bị
cáo
D
tổng
số
tiền
là
22.619.177đ
(trong
đó
20.000.000đ
tiền
gốc
và
2.619.177đ
là
số
tiền
lãi
tương
ứng
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Dân
sự).
Vụ
án
thứ
hai:
Trong
khoảng
thời
gian
từ
05/4/2023
đến
03/10/2023,
Phạm
Trung
Đ,
trú
tại
xã
HS,
huyện
S
cho
Vũ
Văn
H,
trú
cùng
xã
vay
04
lần,
với
mức
lãi
xuất
5.000đ/01
triệu/ngày
(cao
gấp
9
lần
theo
quy
định),
cụ
thể:
Ngày
05/4/2023,
cho
H
vay
20.000.000đ,
đến
ngày
21/11/2023
(231
ngày),
H
đã
trả
tiền
gốc
và
21.000.000đ
tiền
lãi
(Số
tiền
lãi
theo
thỏa
thuận
còn
thiếu
Đ
đồng
ý
bù
vào
lần
vay
sau
và
cho
H).
Ngày
26/9/2023,
cho
H
vay
20.000.000đ,
đến
ngày
21/11/2023
(57
ngày),
H
đã
trả
tiền
gốc
và
6.000.000đ
tiền
lãi.
Ngày
10/10/2023,
cho
H
vay
40.000.000đ,
thời
gian
vay
20
ngày,
đến
ngày
30/10/2023,
H
đã
trả
tiền
gốc
và
4.000.000đ
tiền
lãi.
Ngày
04/11/2023,
tiếp
tục
cho
H
vay
60.000.000đ,
thời
gian
vay
20
ngày,
đến
ngày
24/11/2023,
H
đã
trả
tiền
gốc
và
6.000.000đ
tiền
lãi.
Tổng
số
tiền
lãi
Đ
thu
được
là
37.000.000đ,
trong
đó
tiền
lãi
theo
quy
định
là
4.252.860đ,
tiễn
lãi
thu
lợi
bất
chính
là
32.474.140đ
Bản
án
số
125
ngày
30/7/2024
của
Tòa
án
huyện
S
đã
tuyên
về
tội
danh,
hình
phạt,…
và
truy
thu
của
bị
cáo
Đ
tổng
số
tiền
là
144.252.860đ
(trong
đó
140.000.000đ
tiền
gốc
của
04
lần
cho
vay
và
4.252.860đ
là
số
tiền
lãi
tương
ứng
mức
lãi
suất
cao
nhất
theo
quy
định
của
Bộ
luật
Dân
sự).
Như
vậy,
ở
vụ
án
thứ
nhất
D
cho
M
vay
02
lần,
nhưng
quá
trình
điều
tra,
D
khai
sau
khi
M
trả
tiền
gốc
ở
lần
thứ
nhất,
D
tiếp
tục
dùng
số
tiền
đó
quay
vòng
cho
vay
lần
thứ
hai.
Ở
vụ
án
thứ
hai,
các
cơ
quan
tiến
hành
tố
tụng
xác
định
04
lần
Đ
cho
H
vay
đều
là
số
tiền
gốc
dùng
vào
việc
phạm
tội
cho
vay,
nên
cần
phải
truy
thu
theo
quy
định
tại
Điều
47
BLHS
và
Điều
106
BLTTHS.
Quan
điểm
của
tác
giả,
việc
xử
lý
truy
thu
số
tiền
gốc
cho
vay
ở
vụ
án
thứ
nhất
là
phù
hợp,
vì:
Số
tiền
cho
vay
lô
gích
về
mặt
thời
gian
(16/5/2023
trả,
ngày
03/6/2023
tiếp
tục
cho
vay);
theo
nguyên
tắc
có
lợi
cho
bị
cáo
và
trách
nhiệm
chứng
minh
tội
phạm
thuộc
về
cơ
quan
có
thẩm
quyền
tiến
hành
tố
tụng
theo
quy
định
tại
Điều
15
BLTTHS.
Hơn
nữa
trên
thực
tế
xảy
ra
một
số
vụ
án
cho
vay
trên
môi
trường
không
gian
mạng,
quá
trình
phạm
tội
kéo
dài
hoặc
cho
nhiều
người
vay,
khi
bị
phát
hiện,
số
tiền
đang
cho
vay
lên
đến
hàng
chục,
thậm
chí
hàng
trăm
tỷ
đồng,
quá
trình
điều
tra
bị
can
khai
nhận
khi
mới
phạm
tội,
tiền
gốc
ban
đầu
chỉ
có
một
phần
trong
số
đang
cho
vay,
quá
trình
phạm
tội,
bị
can
thu
gốc
và
lãi
của
những
người
vay
trước
rồi
tiếp
tục
cho
những
người
sau
vay
và
một
phần
đã
chi
tiêu
là
phù
hợp.
Việc
không
làm
rõ
số
tiền
cho
vay
lần
thứ
tư
của
vụ
án
thứ
hai
(nếu
dùng
tiền
gốc
và
lãi
đã
trả
của
lần
vay
thứ
ba
để
cho
vay
tiếp)
có
thể
sẽ
không
phản
ánh
đúng
bản
chất
của
sự
việc
phạm
tội,
ảnh
hưởng
tới
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
bị
cáo
vì
ngoài
số
tiền
gốc,
lãi
đã
trả
lần
thứ
ba
và
phần
bù
thêm
(60.000.000đ
-
44.000.000đ
=
16.000.000đ)
để
mang
cho
vay
lần
thứ
tư
thì
ngoài
phần
tiền
gốc
40
triệu,
bị
cáo
bị
truy
thu
02
lần
mà
phần
lãi
theo
quy
định
và
lãi
xuất
vượt
quá
(nếu
người
vay
yêu
cầu
trả
lại)
cũng
sẽ
bị
tính
truy
thu
và
trả
lại
02
lần.
Ngoài
ra,
hiện
nay
trên
thực
tế
việc
xác
định
số
tiền
gốc
cho
vay
trong
một
số
vụ
án
“bốc
bát
họ”
trừ
lãi
trước
vào
số
tiền
vay
còn
có
nhiều
quan
điểm
khác
nhau
(tính
số
tiền
thỏa
thuận
vay
hay
số
tiền
thực
nhận).
Việc
vay
trả
lãi
hằng
ngày,
tuần
hoặc
tháng,
người
vay
chưa
trả
được
lãi
nhưng
có
nhu
cầu
vay
thêm,
người
cho
vay
thường
nhập
vào
gốc
số
tiền
lãi
còn
nợ,
yêu
cầu
người
vay
ký
nhận
số
tiền
vay
gốc
mới,
hủy
giấy
vay
cũ
mà
thực
chất
người
vay
chỉ
nhận
được
một
phần
trong
số
đó
nên
việc
xác
định
số
tiền
gốc
cho
vay
gặp
rất
nhiều
khó
khăn.
Để
đánh
giá
đúng
tính
chất,
mức
độ
của
hành
vi
phạm
tội,
việc
xử
lý
theo
pháp
luật
được
công
bằng,
khách
quan
và
nghiêm
minh
cũng
như
đảm
bảo
quyền,
lợi
ích
hợp
pháp
của
bị
cáo,
Kiểm
sát
viên
cần
nghiên
cứu
nắm
vững
các
quy
định
của
pháp
luật,
nội
dung
của
vụ
án,
chủ
động
trao
đổi,
thống
nhất
với
Điều
tra
viên
về
cách
thức
tính,
làm
rõ
số
tiền
gốc
cho
vay
đúng
với
bản
chất
của
từng
vụ
án.
Đồng
thời
đề
nghị
liên
ngành
trung
ương
sớm
tổng
hợp
những
vướng
mắc,
hướng
dẫn
cách
thức
tính
số
tiền
gốc
cho
vay
đối
với
các
hình
thức
cho
vay
cụ
thể.
Trần
Việt
Cường
-
Phòng
7
VKSND
tỉnh
Tuyên
Quang